Cung Thiên Di là cung xem về sự đi lại, từ cung này chúng ta còn chứng kiến, giao lưu, trao đổi, tiếp xúc… Từ đó, ta có bạn bè, tìm kiếm được người phối ngẫu.
Cũng là nơi ta gặp gỡ Bà Con chính đó là lý do Cung Thiên Di nhìn thấy cung Phúc, cung Phối.
Một số người cung Di còn nhị hợp với cung Tật, Nô, Phụ, Điền, Tử, Huynh… những cung nhị hợp hay lục hội đó làm tăng thêm lý do, do đâu mà đi lại, đi lại vì ai.
Cung Thiên Di được đánh giá là cung cường, cung quan trọng đối với Mệnh, cung này luôn luôn nhị hợp hay lục hội với các cung nhược, làm tăng mối liên quan với cung ấy.
Thiên Di còn nói lên một số nghề nghiệp, vì đó là nơi ta giao lưu tiếp xúc trao đổi, buôn bán… Người bên ngoài biết đến mình qua cung Thiên Di.
Cung Thiên Di là nơi ta chứng kiến, liệu những sự chứng kiên ấy, ta có can thiệp vào không, hay chính bên ngoài can thiệp vào ta.
Thiên Di là cường cung nhưng đặc biệt không cần tốt hơn Mệnh, nếu cung Di mạnh hơn cung Mệnh chẳng khác gì ta là khán giả, còn cung Di là khán đài.
Cung Thiên Di là hoàng cung, ta là lính gác, cũng có thể vì Thiên Di như sân khấu, ta là khán giả. Vì giữa diễn viên và khán giả chưa biết ai giá trị hơn ai.
Thiên Di là cung giao lưu, đi lại… Miễn sao Cung Thiên Dikhông nguy hiểm cho cung Mệnh là tốt, nếu xấu, có thể là ta chứng kiến, vì Thiên Di còn là khách hàng của Mệnh, vì Thiên Di cũng là đối thủ của Mệnh.
Tuy trường hợp cung này cần tương tác với Mệnh, đem lại may mắn lợi nhuận, lợi ích cho Mệnh.
Mệnh có Tham Vũ Thìn Tuất Sửu Mùi được ca ngợi là cách Mệnh và Di phối hợp tốt.
Thuộc cách tìm kiếm tài năng, bên có tài bên tìm kiếm… nói chung mang nhiều ý hay, kể cả trường hợp VCD có Tham Lang Vũ Khúc xung.
Cung Thiên Di sẽ trở nên nguy hiểm nếu như có Sát tinh, Mệnh cung không thể chế ngự nổi.
Bởi thế có câu “Thiên Di tối kỵ Kiếp Không lâm vào”, ra ngoài dễ gặp cướp, ức hiếp, lừa đảo… tai hoạ không ngờ.
Một số nghề nghiệp cần Thiên Di xấu như chiến binh, vận động viên… Có như thế ta mới thắng được đối phương.
Nếu quân địch mạnh hơn bạn, có lý tưởng hơn bạn… Rõ ràng cái thua nằm ở trước mắt. Giới bác sĩ, thầy bói… cũng thế. Thân chủ là đám đau ốm, bệnh tật có hữu sự xấu.
Một số nghề nghiệp cần Thiên đi hỗ trợ như ca sĩ, người mẫu, diễn viên..Một số người buôn bán, làm nghề dịch vụ.
Cung Thiên Di cần phối hợp tốt với Mệnh kỵ trường hợp gây ra mẫu thuẫn xung đột.
Một người cung Mệnh xấu, cung Di quá đẹp cũng là niềm an ủi, nhờ cung ấy cứu vớt kiếm sống, miễn sao cung ấy tiếp nhận cung Mệnh.
Mệnh tốt Cung Thiên Di xấu ví như đương đầu ác bống, bống là cây gậy. Mệnh Tài Quan và Cung Thiên Di đều xấu là “tứ diện Sở ca” bốn phương quân địch đều vây.
Vậy Thiên Di có thể thấy được, sờ được nếu bạn là người kinh doanh hàng hoá hay lương thực thực phẩm.
Một số văn nghệ sĩ luôn luôn có Xương Khúc hội họp tại Di, họ đem văn chương giao lưu với thiên hạ…. Với các chiến binh, vận động viên, nhất là võ sĩ thi đấu có thể sờ được đối thủ.
Sinh vào giờ Mão, Dậu tất Thân cư Di, Thân cư tại đâu đặt trọng tâm của mình tại đó.
Nơi gởi gấm tấm thân, nên thân cư Di cuộc đời dễ trôi xa, hoặc quan tâm tới tiếp xúc bên ngoài xã hội.
Nếu cung Mệnh, cung an Thân không có chính tinh, bàng tinh chuyển động nhưng đến hạn chuyển động mạnh tất cũng phải trôi nổi.
Vì quan niệm ưa giao du với bên ngoài đã có trong tiềm thức.
Vậy Cung Thiên Di được đánh giá tốt đẹp hơn Mệnh, đa phần bất lợi cho cung Mệnh.
Chẳng khác gì chúng ta tham quan toà Bạch Ốc và những người làm việc tại đây, lại nghĩ nên đề phòng cái đám khách nhàn du ấy.
Hoặc là người ta đến Bạch ốc để làm việc cao quý. Còn ta, cũng đến Bạch ốc để cắt cỏ, nấu ăn, canh gác…
Cung Thiên Di xấu nhất là có Không vong toạ thủ ngay bản cung. Càng xấu hơn nữa tại đó có các sao Thiên Đồng, Thiên Lương hội họp.
Báo hiệu những tai hoạ không thể lường trước khi di chuyển bên ngoài.
Vì ra ngoài mà dùng các từ vô phúc (Đồng Không), không may (Không Lương)tất nhiên là gặp chuyện rủi ro rất quan trọng.
Nếu cung Mệnh có Thiên Đồng ngộ Kiếp việc giao lưu, đi lại với xã hội bên ngoài là vô cùng nguy hiểm.
Vì đó là cách cùng chung tai hoạ, việc tai hoạ, tai nạn tập thể bên ngoài xã hội rất dễ gặp.
Cung Thiên Di một là nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hai là nhóm Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham.
Chủ phía bên ngoài ấn định, chỉ định, nhận định cũng có thể phủ định chính bản Mệnh, Thiên Di mạnh làm cho cung Mệnh bị thiệt thòi.
Cung Thiên Di xấu phủ định, phân xét… bất lợi cho cung Mệnh, đó là lý do cung Thiên Di không nên ngộ Không Vong, Triệt, hoặc tam Không.
Chỉ có Thất Sát (Dần Thân) tốt tại Mệnh mới đương đầu nổi, dù ngoài định nhưng bên trong vẫn có thể đoạt được.
Nhì là Phá Quân (Thìn Tuất) có thể nhận lấy hay từ bỏ cái chỉ định từ bên ngoài.
Cung Thiên Di kỵ gặp Không Kiếp hội họp dễ giao du với kẻ xấu, từ đó đưa đến xung đột với những người thân trong gia đình.
Còn là cách ra ngoài gánh tai hoạ vào mình.
Càng tối kỵ có tam Không, vận hạn qua đó rất dễ chết. Dù rằng Cung Thiên Di là cung chung, nhưng Tử Vi là ngôi sao chủ sự sống chết của người có lá số đó.
Cung Mệnh phải gánh vác việc bên ngoài, gánh vác việc bên trong hay hơn ở bên ngoài.
Vì, ví như kẻ sướng làm việc bên trong, còn trách nhiệm của Mệnh là đứng ngoài đường.
Thường là Vũ Khúc nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc đi với nhóm Sát Phá Tham, tất nhiên đi với nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm thuận lợi hơn.
Lợi cho kinh doanh buôn bán, đi với nhóm Sát Phá Tham dễ đi vào binh nghiệp khi có chiến tranh. Nếu kinh doanh mua bán có phần phức tạp hơn.
Tài sản tức là Vũ Khúc để tại Di lợi cho kinh doanh, đây là cách mua bán các hoá vật, dễ hiểu là đem tài sản (chuyển thành hoá vật) ra để buôn bán trao đổi, cụ thể như bán đồ điện, gia dụng…
Thành công nhờ các sao Lộc, xuống thấp là Thái Tuế, Đào Hồng. Nếu như Tài cung xấu, chỉ mong nhờ đại hạn đáo hay tam hợp với Cung Thiên Di.
Trường hợp đó ta gọi thành công nhờ hạn, Vũ còn là vũ khí khi đi với Hoả Linh, Kình Hình trong các cách Vũ Sát, Vũ Phá đi với các cách quân sự khác.
Vì thế cũng là cách chiến đấu, ra ngoài sử dụng vũ lực, vũ khí, tất nhiên sinh nghề tử nghiệp, tất cả tuỳ thuộc vào hung cát tinh để đoán.
Vũ còn là ngôi sao tài năng, nếu muốn thành công phải đem tài năng phố diễn ra bên ngoài như múa may nhảy nhót… Nếu có Tả Hữu ra ngoài được quý nhân giúp đỡ.
Vũ Khúc tại Di còn dễ gặp các trường hợp được sự trợ giúp về tài chính, người có tài, có năng lực trợ giúp.
Các trường hợp hình thành bộ Vũ Phá đồng cung hay xung chiều lẫn nhau (Vũ tại Dần Thân và Phá Quân tại Thân Dần) bất lợi.
Trong đó có tính phá sản, các trường hợp tại tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) có VũKhúc xung đều hay kể cả trường hợp VCD có Tham Vũ xung.
Cung Thiên Di có Vũ tối kỵ ngộ Kiếp, nhì là ngộ Không dễ mất của và bị lừa đảo vì nó mang ý cái tài sản ấy bị cướp, bị lừa đảo.
Lại nếu thấy có bộ Kình Cô Quả có nghĩa là tranh chấp tài sản sinh hoạ.. Càng kỵ thêm có Kiếp Sát tranh cướp, chưa nói đến Sát tinh, Kỵ Hình.
Nếu có Hoả Linh dễ dùng đến bạo lực không đúng lúc.
Cung Mệnh kỵ gặp Không Kiếp, Mệnh không gắn bó với người, nếu đi với Sát Phá Tham Mệnh không được thương yêu trợ giúp.
Nếu đi với Phủ Tướng nếu cả Mệnh và Cung Thiên Di thấy sao này đều bất lợi, tối kỵ Kỵ Hình.
Cung Thiên Di Liêm Trinh thường nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc đi với nhóm Sát Phá Tham.
Ngôi sao dò xét kín đáo, soi mói… cũng là tủ tinh nằm tại Di khiến Mệnh dễ bị bất lợi.
Bên ngoài dò xét cũng là cách quân sự hay bán quân sự trong trường hợp Liêm Sát, Liêm Phá, Liêm Tham đi với các cách quân sự khác.
Lý luận như sao Vũ Khúc vì Liêm Trinh có nghĩa vũ khí đang theo dõi, như ống nhòm đang rê rê vậy.
Đừng quên Liêm Trinh là ngôi sao của điềm lành, tất nhiên cần đi với cát tinh. Cái dễ gặp và thường gặp là có người để ý thương mình.
Đó là Liêm Trinh Tướng Quân, khác hẳn với có người để ý hại mình là Liêm Trinh Bệnh Phù.
Cung Thiên Di nếu bị bên ngoài dò xét là một yếu tố rất xấu, rất kỵ Địa Kiếp ra ngoài dễ mất mạng, mất của, mang ý ăn cướp, theo dõi.
Có hai dạng dò xét, dò xét để trợ giúp và dò xét để mưu hại. Tất cả tuỳ thuộc vào hung, cát tinh đi với Liêm Trinh để luận.
Cung Thiên Di kỵ Không Kiếp vì giao du với kẻ xấu, đem những rắc rối về gia đình. Liêm Trinh còn chủ dài lâu bị Không Kiếp là tai hoạ còn dài dài…
Cung Mệnh thường là nhóm Sát Phá Tham hoặc Phủ Tướng toạ thủ hay tam hợp hoặc VCD có Thiên Phủ và có Liêm Trinh xung.
Cung Thiên Di thường gặp Thiên Phủ đơn thủ, hoặc nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Bên ngoài mạnh có thể phủ lấp và đè bẹp Thất Sát.
Thất Sát cần mạnh hơn để trấn áp che phủ bên ngoài cho nên luôn luôn có vấn đề.
Bên ngoài đông, bên trong đơn chiếc, bên ngoài che lấp, che phủ, che đậy để bên trong không thấy.
Thất Sát cần phải tốt đẹp để có thể quan sát được tất cả dù che, dù đậy, dù bao che… để thấy được tất khả năng đoạt được, trong trường hợp này Cung Thiên Di bị Triệt hay hơn.
Thiên Phủ tại Cung Thiên Di, chẳng khác nào đối diện với ngôi nhà quá to lớn bên kia đường, nó che lấp tất cả. Mệnh muốn thắng Di, Mệnh phải mạnh, Thiên Di phải yếu.
Cung Thiên Di quá tốt bất lợi cho cung Mệnh, Cung Mệnh quá yếu rất cần Thiên Di che chở cho Mệnh, Cung Mệnh cũng yếu.
Cung Thiên Di cũng xấu lâm vào hoàn cảnh không ai che chở được ai.
Thiên Di kỵ gặp Triệt, Thiên Hình, Kỵ Hình, Không Kiếp. Mệnh luôn luôn có Thất Sát, Mệnh và Di cũng rất cần phối hợp tốt với nhau để cung tồn tại.
Phối hợp tốt giữa Mệnh và Di ra ngoài được sự che chở, trường hợp Mệnh và Di xung đột nhau đó là trường hợp Mệnh Thất Sát có Kình Dương tranh đấu, tranh đoạt, tranh giành.
Trường hợp có Đà La đồng cung hay tam hợp, tuy rằng không phải là cách đấu tranh nhưng dễ bị lôi kéo vào cách tranh đấu.
Vô tình phía bên ngoài tương hợp để kình chống, cho nên cung Mệnh có Thất Sát Đà La cũng cần đi với nhóm sao tốt, có như thế bên trong ta đoạt, bên ngoài bị phủ lấp.
Trong trường hợp như thế cung Di cần có Triệt, Cung Thiên Di lúc đó cần xấu càng tốt.
Hai sao này nếu có Tuần tại Thất Sát (tức là tại Mệnh) hay hơn để Thiên Phủ và Thất Sát gần gũi nhau hơn, để bên ngoài che chở, vỗ về cho bên trong, tức làThất Sát được thụ hưởng.
Thiên Phủ giao hội với Thất Sát kẻ có lợi là Thất Sát, Thất Sát cần được bên ngoài vỗ về che chở.
Đa phần Thất Sát là kẻ thất vọng, thất thế, đơn chiếc… Giúp ai, thương ai, vỗ về ai, chính là những người đơn chiếc, sa cơ thất thể.
Một Thất Sát yếu thất vọng, đơn chiếc, khủng hoảng, cần đến sự che chở của Cung Thiên Di. Mệnh kỵ ngộ Không Kiếp bên ngoài không thừa nhận.
Một Thất Sát mạnh lấn lướt được Thiên Phủ, hay nhất vẫn cần thương yêu che chở, bảo vệ từ phía bên ngoài, chính cái lực lượng này là lá chắn thành đồng.
Cung Thiên Di thường gặp Thiên Tướng đơn thủ, hoặc nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, bên ngoài mạnh có thể tương trợ lẫn nhau gây khó khăn cho Phá Quân.
Đây là thế đứng có thể gây xung đột với nhau hoặc hỗ tương với nhau. Nếu cung Mệnh thuộc cách chống phá tức có Phá Quân có Kình Dương đồng cung hay tam hợp.
Cần có Cung Thiên Di càng yếu càng tốt.
Trường hợp Mệnh Phá Quân có Đà La (đồng cung hay tam hợp) cũng dễ bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh. Vì theo phe này vô tính chống phe khác.
Mệnh và Cung Thiên Di phối hợp tốt ra ngoài được tương trợ, lợi cho vấn đề tình cảm.
Thiên Di rất kỵ Triệt đóng tại đây thành cách tương trừ không được sự tương trợ. Kỵ gặp Hình tức cách tương Hình cùng hình khắc lẫn nhau sinh xung đột.
Còn kỵ gặp Kình chỉ hợp cho chiến binh, nhất là cách Kình Mã tại Di. Tất cả các trường hợp Mệnh hay Di có Không vong đều xấu.
Mệnh cung Phá Quân có thể gặp Tuần Triệt miễn sao không hình cách tam Không và Triệt Kỵ Hình.
Cung Thiên Di thường là Phá Quân đơn thủ hoặc đi chung với nhóm Tử Vũ Liêm.
Thiên di cần gặp Tuần Triệt đây là các sao có lợi cho Phá Quân, trừ trường hợp có Tử Vi bất lợi khi gặp Triệt.
Vì đó, còn là ngôi sao hành động, hành vi của Mệnh và chủ sự sống chết của Mệnh.
Cung Thiên Di kỵ gặp Không Kiếp nhất là trường hợp một sao tại Di và một sao tại Mệnh.
Gặp Kỵ Hình ra ngoài dễ gặp xung đột vi phạm pháp luật, gặp Hao Kình ra ngoài tiếp xúc với xã hội, có lúc khùng điên đánh phá lung tung.
Mệnh luôn luôn có Thiên Tướng đơn thủ hoặc đi chung với nhóm Tử Vũ Liêm. Mệnh cần tốt hơn Cung Thiên Di nếu không bị bên ngoài uy hiếp quậy phá.
Do thế Mệnh luôn luôn tương đương với Phá Quân bên ngoài, cái dễ gặp là mất quân bình, Mệnh tốt tất là Di xấu và ngược lại.
Mệnh cung kỵ gặp Triệt dễ thua thế bên ngoài càng kỵ hơn là có Triệt Kỵ Hình, Tam Không.
Trong trường hợp có Triệt, bên ngoài Sát Phá Tham có tam Không cũng khó uy hiếp được cung Mệnh.
Mệnh có Kình Dương đồng cung hay tam hợp tính tương tranh mạnh, đây không phải cách hay. Trong gia đình dễ bất mãn, ngoài Cung Thiên Di thuộc cách Phá Đà nhu mì.
Trái lại Cung Thiên Di có cách Phá Kình, Mệnh cung Thiên Tướng Đà La nhu nhược, nhu mì khó chống đối nổi Cung Thiên Di.
Nếu là nữ Mệnh có Hồng Loan toạ thủ, Mệnh hưởng cách Tướng Hồng nữ Mệnh quý nhân hảo phối, cần phối hợp với cung Phu để xác định biết đâu Mệnh tốt Phu xấu, lại hỏng cách.
Cung Thiên Di thường gặp Thất Sát đơn thủ, hoặc đi chung với nhóm Tử Vũ Liêm. Thiên Di do thuộc nhóm Sát Phá Tham ưa đánh phá vì thế cung Di cần yếu hơn cung Mệnh.
Nếu Cung Thiên Di có Vũ Khúc hội họp đi với các cách quân sự khác thuộc cách binh nghiệp, bên ngoài quan sát để áp đặt, để đoạt… bên trong cố gắng che đậy.
Trường hợp này cung Di yếu càng tốt cho cung Mệnh, Cung Thiên Di có Thất Sát là 1 yếu tố nguy hiểm vì sao này chủ sát và đoạt.
Nếu thấy Liêm Trinh hội họp nguy cơ càng cao và càng cao hơn nữa có Địa Kiếp chủ cướp và Thiên Không càng tăng thêm tính không ngờ, vì gặp Thất Sát ra ngoài dễ gặp chuyện thất kinh.
Nếu thấy thêm Vũ Khúc và các cách quân sự dễ phát binh nghiệp.
Mệnh cung thường là Thiên Phủ đơn thủ hoặc nằm trong nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh, bao giờ nằm trong nhóm năm sao lợi thế hơn đơn thủ.
Tham Lang tại Cung Thiên Di thường đơn thủ, hoặc nằm trong nhóm Tử Vũ Liêm. Nhóm Sát Phá Tham nằm tại cung Thiên Di chỉ có Tham Lang ít xung đột nhất. Trừ trường hợp Mệnh cung là Liêm Trinh.
Hợp nhất là Mệnh cung có Vũ Khúc, trường hợp Mệnh VCD tính can thiệp, tham dự của Tham Lang rất mạnh.
Có đến ba trường hợp Mệnh VCD có Tham xung. Cách Tham Vũ xung được kể là hay nhất vì thế tuỳ trường hợp cụ thể để luận đoán.
Nếu có thêm Vũ Khúc hội họp tại Di đi với các cách binh nghiệp dễ phát võ nghiệp. Sao này hay can thiệp vào cung Mệnh, cho dù có chính tinh cũng hay can thiệp, can dự vào.
Nhất là các trường hợp Mệnh VCD Tham Lang càng dễ can thiệp.
Nếu Cung Thiên Di tốt người bên ngoài đến tham gia, nếu Thiên Di xấu người bên ngoài do thám làm hại mình.
Thiên Di cần gặp nhất là cách Tuần Khoa, Tham Lang cần đi với Tuần Khoa sẽ giúp cho cung Mệnh với Thiên Di cung hội nhập.
Cung Thiên Di có thể gặp Tuần Triệt các sao này giúp bộ Sát Phá Tham trở thành tốt đẹp, không nguy hiểm.
Tất nhiên kỵ hình thành các bộ Triệt Kỵ Hình, tam Không, Thiên Di cung kỵ gặp Không Kiếp
Mệnh cung thường là nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc VCD Phủ Tướng tam hợp Mệnh. Cho nên, Mệnh cần có Tả Hữu để trợ giúp, Lộc Tồn để bền vững.
Có Cáo Phụ để được phong tặng, thế lực bên ngoài yếu hẳn.
Cung Thiên Di Thiên Đồng thường đơn thủ nằm trong bộ Cự Cơ Đồng hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương.
Cơ bản nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương tốt hơn là cự Cơ Đồng, thực tế căn cứ vào sao tụ tập để luận.
Thiên Di cần gặp Thiên Việt, Có Thiên Đồng là phúc tinh đóng tại Thiên Di ra ngoài dễ gặp phúc tinh che chở.
Phúc tinh chẳng qua là các Thiên Đồng khác dễ thông cảm cùng cảnh ngộ, ngoài ra còn hợp với nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Nếu có THIÊN VIỆT rất tốt là phát phúc…
Cung Thiên Di kỵ gặp Không Kiếp, sẽ bất hạnh khi có Không Kiếp. Thiên Đồng tốt đẹp ra ngoài dễ gặp phúc, Sao này tối kỵ gặp Không Kiếp họa phúc không lường được, phát phúc thường phát họa.
Đây cũng là cách cùng chung tai nạn, tai họa tập thể ra ngoài dễ dính vào các tại nạn tập thể chết chùm.
Khi nghe các vụ tai nạn về xe cộ (nếu thấy Thiên Mã) ta có quyền nghi ngờ Cung Thiên Di có cách này, hoặc đại hạn, tiểu hạn, Tật Ách bị Đồng Mã Kiếp.
Trong tất cả các trường hợp xấu tại Cung Cung Thiên Di, cách Thiên Đồng tại Di ngộ Không bị đánh giá là xấu nhất kể cả các trường hợp có Không vong tam hợp.
Cung Thiên Di ngộ Không Kiếp thường sinh ra cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát, Mệnh cung dễ gặp nạn lớn.
Nếu có Không Kiếp lại thấy có Thiên Mã nên hạn chế đi lại, hạn chế giao du với bạn bè khách khứa.
Mệnh cung thường là nhóm Âm Dương Lương hoặc Cự Nhật, hoặc VCD có bộ Cự Nhật cũng thế.
Mệnh thuộc cách Âm Dương Lương hay hơn cách Cự Nhật. Thiên Đồng chủ phúc đáp, Mệnh Âm Dương Lương chủ bày tỏ.
Bên này phơi bày tâm sự được bên ngoài phúc đáp phối hợp trong ngoài hình thành bộ Đồng Lương hạnh phúc, mặc dù không hoàn chính nhưng có còn hơn không.
Trái lại, Mệnh Cự Nhật có thể khi người ta phúc đáp mình lại dậy sóng phản đối, tính thị phi cao hơn.
Cung Thiên Di thường có Thiên Cơ toạ thủ nằm trong bộ Cự Cơ Đồng hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương.
Thiên Cơ là sao thời cơ, cơ may cần phải tốt đẹp, là nơi đi lại giao du gặp thời cơ tốt là điều diễm phúc.
Do ảnh hưởng của bộ Cơ Đồng Cung Thiên Di cần gặp Thiên Việt để phát phúc, còn là sao hay cật vẫn nên cần thiết có Xương Khúc.
Những hỏi đáp cần có văn hoá nói lên trình độ của Mệnh giao du trong xã hội, có những người luôn luôn được/bị bên ngoài phỏng vấn, xấu là chất vấn.
Mệnh cung thường là cách Âm Dương Lương hay là VCD có Âm Dương Lương tam hợp hoặc Cự Nhật, VCD có Cự Nhật tam hợp.
Do Thiên Cơ xung Mệnh cung sinh nhiều cách phức tạp, nếu là Mệnh thuộc cách Âm Dương Lương cần có Thiên Việt để phát may.
Nếu đi với Cự Nhật cẩn thận trong luận đoán vì Cự Môn đi với Thiên việt có thể phát sinh ra phản bội, xa cách…
Cần gặp Xương Khúc nếu có Cáo Phụ mâu thuẫn cũng nằm trong phạm vi văn hoá, Thanh Long là sao hoà hợp được các cách.
Cung Thiên Di thường là Thiên Lương nằm trong bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc bộ Âm Dương Lương.
Lương thực, thực phẩm phơi bày tại Di. Đây là cách lợi cho buôn bán lương thực, thực phẩm những gì ăn, uống được, kể cả thuốc men…
Thiên Lương là ngôi sao may mắn, đóng tại Cung Thiên Di rất là tốt nhưng dễ bị vô hiệu hoá bởi Không Kiếp trở thành bất hạnh.
Thiên Lương tọa thủ tại Di là điều tốt lành, ra ngoài dễ gặp may mắn dễ có cơ duyên. Tất nhiên Thiên lương càng đắc ý cuộc đời càng dễ chịu.
Thiên Lương tại Di tuổi thọ cao, Thiên Lương không tốt đẹp mấy ở các vị trí Tị Hợi Sửu Mùi cần gặp thêm cát tinh, hỉ tinh để phát may, rất cần có sao Thiên Việt.
Thiên Lương tại Sửu Mùi có Thiên Không đồng cung tất hình thành cách Quế Sứ Hoa Thương giao hội nhau có Thất Sát là cách đa khổ tai ương dễ yếu mệnh.
Cung Thiên Di cần gặp Thiên việt để phát may, Thiên Di kỵ gặp Không Kiếp biến thành không may.
Khi có Không Kiếp hội họp với Thiên Lương dễ hình thành cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát.
Mệnh cung thường là cách Cự Cơ Đồng hoặc Cự Nhật. Mệnh cung chủ yếu là sao Cự Môn, đây là sao kỵ gặp Lộc Tồn thuộc cách cát xứ tàng hung .
Nếu là kinh doanh sợ nhất là sự tồn đọng hàng hoá. Có một số hàng hoá lương thực bị hạn chế thời gian nếu chỉ cách này thôi cũng chưa đáng ngai.
Cần gặp Xương Khúc vì buôn bán cũng cần có văn hoá ứng xử.
Buôn bán cần sinh lời do đó hợp với Hao tinh tất nhiên cần đi với Hoá Lộc, nếu có song Lộc là cách hay nhất, hoặc Minh Lộc Ám Lộc.
Cung Thiên Di thường có Thái Âm đơn thủ nằm trong bộ Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương.
Thái Âm là biểu tượng của phụ nữ, công việc có liên quan đến giới này.
Thái Âm còn là công việc liên quan đến tiếng nói, tiếng động, liên quan đến âm thanh tin tức, thời gian thuộc về ban đêm, nên có người lại làm việc về ban đêm, cuộc sống về đêm.
Thái Âm thường nằm trong bộ Âm Lương cho nên dễ được nghe tiếng nói tốt lành mang lại nhất là cách Đồng Âm.
Cung Thiên Di kỵ gặp Không Kiếp nếu có dễ gặp cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát.
Thái Âm còn là sao âm thầm, âm mưu vì thế nếu thấy bộ Âm Đà Không Kiếp dễ mắc phải âm mưu, nhất là âm mưu phụ nữ.
Thái Âm là sao âm thầm tốt là gặp may, xấu là dễ mắc mưu, âm thầm đổ kỵ, làm hại…Bộ Thái Âm ngộ Không vong có thể hợp với cung Mệnh nhưng bất lợi tại Cung Thiên Di.
Thiên Di có Thái Âm tối kỵ gặp Không vong vì Có thể gặp những âm mưu không thể lường trước được, từ phía bên ngoài xuất phát từ lòng ham muốn của mình.
Cung Thiên Di chỉ hợp với Xương Khúc, Thanh Long mang văn chương, tiếng nói tiếp xúc với đời.
Mệnh cung thường là nhóm Cự Cơ Đồng hoặc Cự Nhật, Mệnh cung chủ yếu là sao Cự Môn. Mệnh kỵ nhất lại có Hoá Kỵ, Cáo Phụ lại gia thêm Thiên Hình.
Mệnh thuộc cách tiếp xúc với bên ngoài, gặp các sao kể trên rõ ràng bất lợi sinh ra thị phi. Kỵ gặp Lộc Tồn thuộc cách Cát xứ tàng hung.
Nếu chỉ cách này thôi cũng chưa đáng ngại, chỉ sợ gặp thêm Kỵ, Hình, Hoả Linh.
Mệnh cung cần gặp cần gặp Xương Khúc (kể cả cung Di) để tránh trường hợp bộ sao này lạc qua gặp Thương Sứ.
Dễ hình thành cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát, Thất Sát (nhóm Sát Phá Tham) luôn luôn vốn có tại Tật.
Cung Thiên Di luôn luôn có Thái Dương một là cách Cự Nhật hai là cách Âm Dương Lương được bên ngoài tán dương khuyến khích.
Nếu Mệnh là người khéo giỏi, Thiên Di thiên về tiếp xúc với đàn ông, có tính công khai và ban ngày.
Người có cách này cũng hay đem giới nam (cha, chồng, con trai) ra khoe với thiên hạ.
Đây cũng là cách ham đi xa, Thái Dương tại Cung Thiên Di thôi thúc người ta đi xa. Xem có các sao thuộc nhóm chuyển động không, nếu có thêm Cự Môn thường là đi rất xa.
Trường hợp cung Mệnh có Cự Môn hội họp lại có Thái Dương xung, thôi thúc đi xa xem có các nhóm sao chuyển động có tụ tập hay không?
Nếu thấy Phi Phục Thanh, Lưu hà hoặc Đào Hà hoặc Phượng Mã là số đi xa.
Cung Thiên Di nếu là bộ Âm Dương Lương tối kỵ gặp Không Kiếp. Nếu có Không Kiếp kiểm tra có cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát thường dễ tìm thấy tại cung Huynh Đệ.
Trường hợp nào cũng kỵ gặp Hoá Kỵ, ra ngoài dễ bị người ta công khai chỉ trích, đố kỵ. Vì cả cung Mệnh và Cung Thiên Di đều kỵ sao này. Kỵ gặp Cáo Phụ.
Mệnh và Cung Thiên Di xung đột mâu
thuẫn với nhau. Nếu Mệnh có Cáo Phụ cần đi với Xương Khúc.
Mệnh cung thuộc cách Cự Cơ Đồng hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương. cần gặp Xương Khúc, Khôi Việt để phát may phát phúc.
Nếu có Hoá Kỵ cần thận trong luận đoán. Vì hình thành cách Việt Kỵ phát sinh sự thị phi, rất kỵ gặp Cự Môn.
Cung Thiên Di thường là cách Cự Nhật hoặc Cự Cơ Đồng. Cung Thiên Di có sao này, cuộc sống thường rối ren bất ổn do Cự Môn bên ngoài mang lại.
Bên ngoài có Cự Môn xung là cái thế phức tạp cho cung Mệnh luôn luôn có đối tượng để phản đối, và còn có thể phản bội lại cung Mệnh.
Cho dù tốt đẹp đi chăng nữa cuộc sống luôn luôn đối phó với những tiếng nói phản đối từ bên ngoài, tất nhiên ta cũng phải phản đổi lại. Hầu như cuộc đời có nhiều tranh cãi từ mồm miệng,
Nếu không xong buộc lòng phải khởi binh, tùy theo số phận của mỗi người đi với bàng tinh mà có thể là cự cãi đến cự binh.
Đây là ngôi sao đem lại rắc rối cho Mệnh cung. Trường hợp Mệnh VCD uy lực của Cự Môn càng mạnh.
Cự Môn là sao ưa đi xa, nếu thấy Phi Phục Thanh, Lưu Hà, Đào Hà hoay Phượng Mã là số đi xa.
Cung Thiên Di kỵ gặp nhất là Hoá Kỵ nhất là hình thành các bộ là Kỵ Đà, Không Vong nhì là Địa Kiếp.
Mệnh cung thường là cách VCD có Âm Dương Lương hoặc VCD có Cơ Nguyệt Đồng Lương tam hợp, và có các sao vừa kể toạ thủ tại cung Mệnh.
Điều này cho thấy tính phức tạp của Cự Môn xung, phản ứng cung Mệnh khác nhau rất nhiều. Mệnh cung chủ yếu là sao Thiên Lương.
Mệnh cung kỵ gặp Không Kiếp vô phúc bất hạnh, Mệnh dễ gặp chuyện không may. Kiểm tra có cách Quế Sứ Hoa Thương phủng Thất Sát hay không.
Cáo Phụ có thể đưa đến xung đột mâu thuẫn với Cung Thiên Di, có thể đưa đến kiện cáo, phản bội tuỳ thuộc vào thị phi tinh.
Nội dung trên là ý nghĩa chính của Cung Thiên Di, để bàn về thành công hay thất bại, tốt hay xấu cần kết hợp tất cả các sao đi cùng.
Bài viết được biên soạn bởi chuyên gia Tử Vi Đẩu Số với hơn 16 năm kinh nghiệm nghiên cứu về số mệnh Con Người: Minh Tỉnh – Luận giải và đào tạo Tử Vi.