Nói nhanh mau là Hạn quan trọng nhất, không phải vô cớ người xưa viết “Mệnh tốt, không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Hạn tốt”.
Thật ra, đây không phải là đề tài quan trọng, nhưng có nhiều người hiểu lầm một cách rất buồn cười. Mệnh có tam Hoá phải là tốt, tốt, tốt tất cả… tự nó qua được tất cả.
Cho dù là lá ngọc cành vàng… Nhưng hiện tại, bây giờ nè… muốn sống, đi ăn mày hoặc làm phu bốc vác, phu kéo xe, hoặc theo tao đi ăn cướp…
Hai cái chọn một, cả hai cái không chọn thì chết đói mà thôi, sẽ có hai trường hợp một là chấp nhận chết đói chứ không chịu làm hai công việc kia.
Trường hợp thứ hai, lại có hai trường hợp chọn lựa là chọn làm phu hoặc ăn cướp. Cái gì chứ ăn cướp em khoái lắm, cướp ngôi vua còn dám làm, huống gì làm lục lâm thảo khấu.
Lá ngọc cành vàng cũng có người tính cách tốt hay xấu, cũng như người sinh ra ở chốn bần hàn mà thôi. Vì sinh con ai dễ sinh lòng, Cha mẹ sinh con trời sinh tính.
Cũng đừng bao giờ hiểu lầm rằng cứ hoàng tử, công chúa là tốt số. Nhưng có tốt số sinh ra mới là con vua đó là bạn nghĩ như thế, còn bạn là nhà vua bạn nghĩ khác “Trời ơi! là trời Con cái gì lạ thế, nó hại trẫm. Có chuyện gì thế? Nó ngu, chịu đời không nổi”.
Chuyện đó chưa quan trọng vì “Thông minh vốn có tự trời”… Đứa ngu Trẫm cam phận, còn thằng trời ơi kia quậy hết cấp.
Nó có cung điện riêng, lương, bỗng, lộc thôi đủ cả thế mà thấy mặt Trẫm là xin, thấy vợ Trẫm là xin, các em nó còn bé tí là cho anh, nó không khác gì một đứa ăn mày.
Các quan lại gặp nó đành biếu tặng, dâng hiến đâu dám dùng chữ cho. Chưa hết nhé, đến cái con Công Chúa to đầu, có chồng còn lẵng lơ ngoại tình. Nó như con đĩ hạng sang thế thôi.
Trẫm thà làm dân còn sướng hơn làm vua mang nỗi nhục này. Chuyện các Hoàng Tử tranh giành chiếc ghế đẹp cửu long, đâm chém nhau có đầy trong lịch sử nước nào cũng có.
Vì trong Mệnh số, trong Ách cung vốn có chữ tranh (Kình) và cướp (Kiếp). Cứ thế mà làm cho hợp với số phận.
Đây là quan niệm dễ hiểu lầm cứ là Hoàng Tử, Công Chúa là tốt số… chưa nghe hai từ Hoàng Tử đã ra nghĩa địa vùi thây, còn sướng hơn làm Hoàng Tử mà Vua Cha không yêu, Vua Anh cũng không thích.
Lại nói đến quan niệm sai lầm cứ Thân tốt là không sợ chi cả, cứ như là đạn bắn không thủng, dao dâm không lũng, virus ăn cả nạm không sao cả.
Người mẹ thường hãnh diện sinh con không bị tật nguyền, ác bệnh ác tật… đứa nào cũng khoẻ mạnh. Nhưng liệu nó có vẹn toàn như thế không lại là việc khác.
Cũng như ông Bác Sĩ, có ông nào dám khẳng định sức khoẻ tốt, tiếp xúc với virus bệnh than, HIV, vi khuẩn …vô hai.
Hay chính, Bác Sĩ chữa bệnh lao dễ nhiễm lao nhất, với ngành y, có lẽ cái này thường. Chưa hết chuyện lạ chính Bác Sĩ cũng bị sốc thuốc huống gì là bệnh nhân.
Với quan niệm lạ lùng như thế, ảnh hưởng xấu đến luận đoán. Tam Hoá cũng có loại tốt loại xấu, loại tam Hoá vô tù ngồi không thiếu.
Có hay không có các vua, các tổng thống, các thủ tướng, tể tướng… các bộ trưởng còn nhiều hơn thế nữa. Hôm qua là như thế, hôm nay ở trong tù. Và có hay là không, hôm xưa ở trong tù, hôm nay hưởng vinh quang.
Vậy cái gì, gây nên sự tích ấy, đó là Hạn. Như vậy, con đường đi đến vinh quang ấy, nếu dùng thủ đoạn xảo trá, hậu quả vô cùng tai hại, kết liễu trong cuộc buồn.
Lại phải nói đã có tài, giỏi là làm chính trị, làm quan… có nhiều người mê con đường này lắm, “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối”… Từ bụng ta, suy ra bụng người.
Chứ thiếu gì các trường hợp, thà chọn con đường tình, con đường kinh doanh, con đường khoa học…. con đường hoạn lộ ớn lắm.
Vô tình quên các cách cục trong Tử Vi “Quân tử tại dã, Tiểu nhân tại vị”. Những gì học được như nước đổ đầu vịt.
Cũng phải kể đến có tài tất phải giàu nhưng “Nó nghèo lắm anh à”, tài năng và tiền tài khác nhau chứ, tài năng chắc gì hơn may mắn.
Cứ quan niệm lạ kỳ trong đầu, không giống ai vô tình đã lệch hướng trong Tử Vi. Từ sai lầm này bước qua sai lầm khác… Tử Vi phân biệt rõ hai chữ thành công và thành đạt.
Anh có quyền, anh giàu có là anh thành công, nhưng địa vị của anh, cho tôi ngồi tôi cũng không thèm, bắt ép tôi cũng không nhận. Với anh, thì anh vênh vang, với tôi đó là sự xấu hố.
Ai mà chẳng biết, nhờ ma đầu, ma giáo đạp lên dư luận để thành công. Chẳng có ai nễ phục, chẳng có ai thương tiếc. Như thế, chỉ thành công mà chưa thành đạt.
Vậy cái gì giúp người ta hoặc làm cho người ta xấu đi đó là cái Hạn, chính vì thế mà người ta viết “Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt. Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay Còn trời, còn dất còn non nước, có lẽ ta đâu mãi thế này.” Trong “Quân tử cố cùng” của Nguyễn Công Trứ.
Dẫu sao Nguyễn Công Trứ có lúc lên xe xuống chó, hai chữ lên, xuống của cụ có vấn đề.
Xuống đã xấu mà lên không nổi coi như hỏng bét. Tất cả dài dòng để chứng minh một điều Hạn là cái quan trọng nhất.
Nhờ Hạn cho ta cơ hội thành công, vì Hạn mà ta chết, chưa biết vinh quang là gì. Kẻ có tài mà không có thời, cũng chịu hoặc cái thời đến quá sớm chưa hưởng thụ đã hết đó là nói về sao thời cơ.
Chờ Vũ Khúc bước ngoặt cuộc đời vào lại đi vào ngỏ hẻm, còn may hơn là bước đường cùng. Rồi Cự Môn có khi là bước khởi đầu ra nghĩa địa thì có.
Chưa nói đến tài đi lừa, đi cướp chưa ở tù là may lắm rồi, tốt xấu do Hạn mà có vì hạn là quảng đường ta phải đi qua. “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả. Anh hùng hào kiệt có hơn ai”… Người giỏi, người có tài qua hạn khó khăn tương đối dễ dàng.
Bản chất xấu xa qua hạn xấu dễ sa ngã… Có người thấy đào thì ham, thấy tiền sáng mắt nhưng với người khác thấy đào thì ngại, thấy tiền thêm lo…
Vì đằng sau những cái ấy có thể thân bại danh liệt, mưu mô, mua chuộc gài bẫy. Từ đó Ta có hạn căn bản nhưng không nhất thiết ai cũng giống ai.
Nếu có người yêu nước, tất có kẻ bán mước cầu vinh, Họ phản ứng khác nhau trước một vấn đề đó là Hạn.
Nếu tốt, tất có năm rất tốt, nếu xấu tất có năm rất xấu. Đại Hạn ghi thuận theo số cục tuỳ thuộc vào dương nam, âm nữ, ghi ngược theo âm nam, dương nữ.
Tiểu Hạn của nam đi thuận, nữ đi nghịch. Đại Hạn là quảng đường dài đi mười năm mới hết. Tiểu Hạn là khúc đường, đoạn đường là thời điểm hiện tại, nó là Hạn quan trọng nhất vì nó chỉ thì hiện tại.
Nếu đại hạn xấu, quảng đường xấu gặp khúc đường tốt cũng mát mặt, dễ chịu một tí. Nếu quảng đường xấu, khúc đường xấu nhất, e rằng, không đi hết quảng đường này.
Là tâm trạng của ta khi đi trên đoạn đường ấy, tâm trạng của ta khi vui, khi buồn, lúc phấn khởi lại có lúc bi ai…
Chính bạn cũng nhìn thấy, cũng câu viết ấy, cũng bộ mặt ấy… nhưng mỗi lúc chúng ta đọc thấy, nhìn thấy tâm trạng khác nhau.
Vậy tâm trạng của Mệnh Hạn làm cho tình huống của tiểu hạn thêm xấu hoặc thêm tốt. Tất cả điều này tìm thấy trong lưu Phi tinh của năm tiểu hạn.
Trong Tử Vi chỉ có đại hạn và tiểu hạn mà thôi, tiểu hạn luôn luôn có chữ trên Thiên bàn. Cần quan tâm đến lưu Phi tinh vì lưu Phi tinh góp phần quan trọng nhất làm cho tiểu hạn xấu hoặc tốt, dựa trên nền tảng sao cố định vốn có.
Lưu Phi tinh năm nào chính là bản đồ niên can của năm ấy, xếp chồng lên lá số của ta. Ví dụ: Năm Bính Thân, xem bản đồ năm Bính Thân, Năm Đinh Dậu xem bản đồ sao năm Đinh Dậu.
Mệnh tôi, nam đóng tại Tý, chịu ảnh hưởng cung Tý. Bạn tôi cùng tuổi với tôi nhưng nó lại đóng tại Sửu. Như vậy hai người cùng tuổi chịu ảnh hưởng khác nhau.
Cho dù cùng một tuổi, cùng một cung Mệnh. Ví dụ là cung Tý nhưng khác chính tinh. Tiểu Hạn năm Mậu Tuất tác động lên Mệnh tôi và bạn tôi khác nhau vì khác chính tinh.
Ví dụ cụ thể Tôi Mệnh Tham Lang gặp năm Mậu Tuất (2018) hoá khí thành Hoá Lộc, Bạn tôi Mệnh Thiên Cơ bị hoá khí thành Kỵ hay gặp chuyện thị phi.
Điều này giải thích vì sao chẳng khắc, xung, hợp cứ đến năm Mậu lại mang hoạ. Cho nên chuyện các sách Tử Vi tiền định hằng năm là chuyện bịa.
Cùng một hạn Đào Hoa cố định như nhau, bên này vui mừng do cưới hỏi sinh nở, thăng quan tiến chức. Bên kia đào hố chôn mình, đào ra chuyện đảo chính, lật đổ người vô tình lật đổ mình vì khác nhau chính tinh, hung sát tinh.
Lưu Phi tinh chẳng qua là áp đặt bộ Sao Can Chi của năm ấy lên lá số Tử Vi của mình xem thử có hợp không.
Tất cả các sao an được theo hàng Can và hàng Chi kể cả tứ Hoá đều là lưu Phi tinh, các Phi tinh này tác động đến Mệnh, đại hạn, tiểu hạn và cả các cung.
Đối với Mệnh ta gọi là Mệnh Hạn, có người bỗng dưng ưu sầu, có người tự tin, có người lo lắng…
Các Hạn sau đây bị đánh giá là xấu, lại có trường hợp các hạn xấu trùng nhau làm cho Hạn xấu càng thêm xấu, xấu quá, quá xấu…
Đây là các cung bị đánh giá là xấu nhất trong các cung vì nó chứa hai sao Thương Sứ. Trường hợp này chỉ xảy ra với những người ngoài 52 tuổi trở lên mới có thể gặp.
Và chỉ có thể gặp hai lần trong cuộc đời do đại Hạn có Thương, tiểu hạn Hạn có Sứ hoặc đại Hạn có sứ, tiểu Hạn có Thương.
Nếu chỉ hai Hạn Thương Sứ mức độ xấu chỉ là cấp một, có khi còn kèm theo một Hạn tại Không, một Hạn tại Kiếp, hoặc một Hạn Kình, một Hạn Đà, một Hạn Hoả, một Hạn Linh, hoặc các bộ Linh Xương La Vũ, Tam Ám… Hai Hạn đều có Hoá Kỵ. Đại tiểu Hạn trùng phùng với một trong hai cung này cũng có khuynh hướng xấu.
Rất dễ gặp trường hợp này, đây là vị trí dễ bị oan tình nhất. Nhất là gặp thêm các bộ Tang Khốc La, Đường Hổ, Tuế Đà, Thiên Hư Tuế Phá… Cũng là nơi dễ gặp bộ Linh Xương La Vũ.
Nếu chỉ là hai Hạn La Võng thôi cũng chưa đáng ngại, còn có thể gặp thêm các cách xấu khác nhất là Không Kiếp, Hoả Linh, Kỵ Hình.
Tuần Triệt là nhóm sao Vong tinh, chủ mất dễ vong mang mạng, vong thân… Kỵ cùng lúc lưu vào Thân, Mệnh hoặc lâm vào trường hợp hai hạn đều có Tuần hay Triệt, điều này rất dễ xảy ra.
Nếu chừng này thôi chưa đáng ngại vì Tuần Triệt còn là sao phòng trừ từ thường hay dùng là phòng tránh. Nhưng sẽ rất xấu nếu có thêm Không Kiếp đi với Tuần và chính tinh bất hợp với Tuần Triệt.
Hoặc Tử Vi có Tuần hay Triệt đồng cung lại có cả tam Không là hạn cực xấu, khó qua khỏi. Người già gặp Hạn Tử Vi đi với Tuần Triệt thường vong mạng do hàm ý tử vong.
Với người trẻ có khi ứng hợp với từ bỏ hay đánh mất nhiệm vụ, từ bỏ công việc hay địa vi… Đáng ngại hai Hạn có Tuần Triệt cố định nay thêm lưu động hội họp, Tuần Triệt này là vong tinh, không tinh lại thêm Hung Sát tinh khác.
Là một hạn xấu, vì cả hai hạn đều nằm trong tầm tay của hai sao này. Đây là thời điểm xảy ra những tai hoạ không ngờ do hai đại sát tinh này gây ra.
Ngay cả những người có Sát Phá tài giỏi tại Mệnh cũng có thể gặp nguy hiểm vì lý do như sau: Do đại hạn xảy ra trong thời gian 10 năm, trong thời gian ấy có khi gặp thêm những sao lưu động xấu, làm đại hạn vốn xấu lại càng xấu thêm.
Ví dụ đại hạn có Thiên Không nay gặp thêm lưu Thiên Hư Tuế Phá như thế là hình thành hai chữ bại vong, cho nên anh hùng khi ấy cũng khoanh tay.
Có khi hai hạn Không Kiếp còn có thêm cả Hoả Linh đành bó tay, không những thế có khi còn phối hợp với các cách xấu khác như Thương Sứ, Kình Đà…
Có Triệt án ngữ Không Kiếp rất đắc lực, ngoại trừ Triệt Kỵ Hình, Triệt tam Không vô tác dụng.
Là một Hạn vốn đã xấu dễ làm khủng hoảng tinh thần, bất hợp nhiều chính tinh chỉ hợp với Tử Vi và Tham Lang nhưng với điều kiện là không có thêm Không Kiếp, Kỵ Hình…
Có khi lại kết hợp với nhiều hung sát tinh, các cách xấu khác, đã xấu lại càng xấu thêm. Đặc biệt kỵ gặp Khôi Việt làm cho hai sát tinh này phát hoả, bùng phát tai hoạ.
Nhẹ nhàng nhất là giận hờn, lạnh nhạt, nguy hiểm nhất là không thể lường trước được hai sao khùng điên này nó khùng như thế nào?
Nếu người thân lâm nạn, chúng ta không nên đổ dầu vào lửa làm chi, còn nếu bản thân chúng ta gặp cố gắng kềm chế lại.
Nhưng éo le lại dễ gặp Kình Dương khiêu khích, Hoá Kỵ đố kỵ… làm cho muốn giống y như số phận an bài.
Triệt án ngữ Hoả Linh rất đắc lực, tất nhiên lại phải nhắc nhớ nếu gặp Triệt Kỵ Hình, Triệt Tam Không trở thành vô tác dụng.
Thường dễ gặp một trong hai sao này một tốt và một xấu, nếu xấu thì xấu một Hạn mà thôi. Một số tuổi có bộ Kình Đà đều tốt.
Trường hợp nào là xấu, Kình là khó khăn, chông gai, chống đối, là thọc gậy bánh xe… khiêu khích. Đà xấu là bị cản trở, bị sa lầy sa bẫy, là dây nhợ ràng buộc từ vô hình đến hữu hình để rồi sa vào con đường xấu.
Bộ Kình Đà lại có khi còn đi với Không Kiếp, Hoả Linh, Thương Sứ… làm cho bộ Kình Đà ngồi đứng không yên, tiến thoái lưỡng nan.
Nếu lên là lên toà án, lên thiên đình… Nếu xuống là xuống địa ngục, nếu hai Hạn có bộ sao này thường vướng vào chuyện nầy chuyện nọ.
Tuy nhiên cá biệt ta cũng gặp Kình đắc ý, Đà đắc chí chứ không phải là không có.
Điều này chỉ xảy ra khi Mệnh thuộc nhóm Sát Phá Tham. Ví dụ: Mệnh tại Phá Quân, một hạn tại Thất Sát và một hạn tại Tham Lang vô hình chung hoàn toàn nằm trong tầm khống chế của nhóm Sát Phá Tham sẽ cực kỳ nguy hiểm.
Khi nhóm sao này bị đánh giá là xấu, tức Mệnh đã xấu, nay cả hai Hạn còn lại đều nằm trong trường hợp này. Nhất là các trường hợp Mệnh thuộc cách Cát xứ tàng hung cũng dễ gặp lúc có lưu Cát xứ tàng hung.
Sát Phá Hoả Hao… cũng rất dễ gặp các năm có lưu Hoá Kỵ, Thiên Việt, Ta còn gặp Sát Phá Tham có Kỵ Hình.
Nay toàn nhóm lại thêm lưu Kỵ đã xấu lại càng xấu thêm. Hạn Trúc La là hạn dễ bị đâm, bị đánh, bị bắt, bị giết, bị chọc, bị soi… do tác động ngược của hai sao này, nếu tốt thì được, nếu xấu thì bị.
Hoá Kỵ là một trong tam Ám mạnh nhất kết hợp với hai sao Ám còn lại hình thành các bộ nhị Ám cũng mạnh mẽ không kém là Kỵ Đà, Kỵ Diêu.
Mệnh, Hạn có các cách Tử Vi Xương Khúc lại thích hợp với Hoá Kỵ chuyển hướng thành kỳ tài. Việc đó cấm kỵ, đáng nghi, Anh làm được là kỳ tài.
Ngoài ra bộ Cơ Lương có Hoá Khoa hình thành cách kỳ Khoa. Nếu chỉ có Hoá Khoa có phần nào thích hợp vì còn tuỳ thuộc vào vào chính tinh quanh đấy có hợp với Kỵ hay là không.
Bộ Kỵ Hình Khoa sẽ xấu vào các năm có lưu thêm Hoá Kỵ, chính tinh kỵ gặp nhất là Cự Môn cho nên có câu: “Cự Môn Hoá Kỵ giai bất cát. Mệnh, Thân, Vận Hạn kỵ tương phùng”.
Mỗi chính tinh mang mỗi ý khác nhau nên cái kỵ cũng khác nhau, trong suốt cuộc đời tối thiểu ít nhất là sáu lần gặp lưu Kỵ.
Ví dụ: Tuổi Giáp có Thái Dương tại Tý, tuổi Tý có lúc tiểu hạn đi ngang cung Tý thế nào cũng gặp năm Giáp Tý, có lưỡng Kỵ.
Nhưng sao Thái Dương đóng tại Sửu thì sao? Tuy rằng, tiểu hạn không ngộ lưu Hoá Kỵ có thể đại hạn tại Sửu có bộ Âm Dương Sửu, đại hạn đóng tại đây.
Trong 10 năm tất có năm Giáp có lưu Hoá Kỵ, trong trường hợp vừa kể lại thêm Hoá Kỵ của năm Ất kỵ Thái Âm.
Cá biệt, ta còn gặp trường hợp cả hai Hạn đều có Kỵ hoặc nằm trong tam Ám hay nằm thế liền kề nhau càng tối tăm mặt mũi.
Kinh nghiệm cho thấy Hoá Kỵ thường có mặt trong hạn chết. Từ đó, Kỵ biến thành kỵ giỗ, nếu thuộc cách an tứ Hoá, việc tìm các năm có lưu Hoá Kỵ đề phòng là cần thiết.
Thiên Hư Tuế Phá là vị trí xấu nhất của hàng Chi, ngôi sao giả dối, không thực, ảo, bại đi với Kình tạo thành các bộ Kình Hư, Kình Tang, Kình Khách.
Đi với Đà tạo thành các bộ Đà Hư, Đà Tang, Đà Khách. Đi với Phi Liêm thành bộ Phi Hư điểm xấu nhất của cả Can và Chi.
Ngoài ra còn gặp Hư đi với Phục Binh, Bệnh Phù là những vị trí rất xấu, có trường hợp đại hạn có Hư nay lại Hư trùng phùng.
Đáng nói không phải ai cũng gặp trường hợp éo le như thế, đã Hư có khi gặp thêm Không Kiếp, Cô Quả lại đi với Không Kiếp nằm trong các bộ tam Không, Lộc đảo Mã đảo…
Bị đánh giá là xấu khi đi với nhóm Tang Hư Khách tạo thành các bộ sao xấu. Phi Liêm trở thành xấu khi đồng cung với Cự Môn, Phá Quân thuộc cách Cát xứ tàng hung.
Tuy rằng Cự Môn, Phá Quân đồng cung với bộ Tồn Tướng Phù cũng là cách Cát xứ tàng hung, nhưng đồng cung với Phi Liêm là xấu nhất vì bên ngoài còn, bản thân mình tan rã…
Vị trí Phi Liêm có khi còn gặp thêm cách Lộc đảo Mã đảo càng cực xấu.
Còn kỵ Thiên Hình vì hình thành bộ sao sai trái với pháp luật, càng nguy hiểm hơn là gặp bộ Phi Việt Hoả Linh Hình.
Là hạn dễ bị sỉ nhục do gây hại vô tình hoặc cố ý… Còn là ngôi sao đơn thuốc do đau ốm thăm khám, đáng nói người ta thường chết vì đau ốm nhiều hơn là tai nạn.
Nên các trường hợp lưỡng Bệnh Phù hoặc hai hạn đều có Bệnh Phù đáng quan tâm, Bệnh Phù có khi đi với nhóm Tang Hư Khách đã xấu lại càng xấu thêm.
Sao này không hợp với Cự Môn, Phá Quân làm tăng thêm mức độ xấu, chỉ có một chính tinh duy nhất phù hợp là Thiên Lương làm cho Bệnh Phù trở thành ngôi sao nguy hiểm.
Từ vị trí sao này cũng dễ gặp bộ Lộc đảo Mã đảo.
Nội dung trên là tổng hợp các Hạn xấu, nếu chỉ là một cách xấu thôi là chuyện bình thường. Nhưng nhiều cách xấu phối với nhau là điều đáng ngại và để bàn về thành công hay thất bại, tốt hay xấu cần kết hợp tất cả các sao đi cùng.
Bài viết được biên soạn bởi chuyên gia Tử Vi Đẩu Số với hơn 16 năm kinh nghiệm nghiên cứu về số mệnh Con Người: Minh Tỉnh – Luận giải và đào tạo Tử Vi.