Cung Huynh Đệ là cung Anh Em kể cả cùng Cha khác Mẹ, hay cùng Mẹ khác Cha và cả Anh Em bên Chồng hay bên Vợ, nếu có Anh Em kết nghĩa cũng nằm tại cung này. Những điều quan trọng liên quan đến Anh Em xem tại Cung Huynh Đệ.
Từ vị trí cung này tìm xem có cách Xương Khúc Thương Sứ hay không, nếu có lại thấy thêm Thất Sát bản thân mình là người “đa khổ tai ương” lại dễ yểu vong.
Xem thử cung Mệnh và cả cũng an Thân có nhị hợp hay lục hội với Cung Huynh Đệ không?, nếu cả hai cung Thân Mệnh không nhị hợp hay lục hội ít ở gần anh em. Nếu có hội họp xấu càng dễ xung khắc, tốt càng rất tốt.
Đại hạn thứ hai của một số người (vận hành nghịch) đi ngang qua Cung Huynh Đệ, chịu ảnh hưởng rất nhiều của cung này và từ đó có thể hình thành nghề nghiệp về sau, do cung này gây áp lực hay hướng dẫn mình đi theo lối ấy.
Nếu Cung Huynh Đệ có Triệt người Anh Chị đầu dễ mất sớm, hoặc may ra sống xa cách.
Nếu Triệt đứng ở giữa Huynh Đệ và Mệnh, hạn hành đi qua cung này nổi lên nổi bật và phải đứng ra cáng đáng vai trò huynh trưởng, trong hoàn cảnh thường là khó khăn.
Cung Huynh Đệ là cung tam hợp có Điền cung và Tật Ách cung, bên ngoài có Nô Bộc xung, là cung dễ phát sinh tai ách về tranh giành nhà đất, gây nên cảnh Huynh Đệ tương tàn.
Một số người có danh phận còn bị ảnh hưởng của bạn bè tôi tớ bên ngoài can thiệp làm cho tình thế càng rối ren thêm. Cung Huynh Đệ là cung dễ sinh tai ách nhất và Anh Em càng nhiều càng dễ sinh chuyện.
Cũng là cung nhìn thấy hai sao Thương Sứ nhưng cung Phụ Mẫu, còn có Nô Bộc, Tử Tức tam hợp can thiệp nhưng ở cung Huynh Đệ thì không, sự can thiệp bên ngoài chỉ làm rồi ren thêm.
Cung Huynh Đệ dễ sinh ra mâu thuẫn nhất vì nó luôn luôn kề cận cung Mệnh, gần gũi trong đời sống, vai trò lại không lớn như cung Phụ Mẫu để Mệnh cung phải nghe theo.
Để có một Cung Huynh Đệ hoà hợp không phải là dễ, nhất là Huynh Đệ càng nhiều càng dễ sinh va chạm. Vì trong đó dễ có người có cung Huynh Đệ xấu sẽ va chạm vào nhau.
Mệnh có Thiên Đồng xung tất Cung Huynh Đệ có Tử Vi, Mệnh thường là bộ Âm Dương Lương hai là bộ Cự Nhật hoặc VCD có bộ Âm Dương Lương hoặc Cự Nhật.
Mệnh có Cự Nhật thường dễ sinh chuyện với Cung Huynh Đệ. Vì Huynh Đệ chủ làm, còn bản Mệnh lại ưa phản đối nguy cơ sinh chuyện rất cao, trường hợp này kỵ gặp thêm Cáo Phụ.
Mệnh nhóm Âm Dương Lương có phần lành tính hơn, kỵ gặp Hao Kỵ Hình cũng sinh chuyện ồn ào vì bản mệnh dễ va chạm với người thân cả hai giới (nam và nữ) trong gia đình.
Kỵ nhất là Mệnh có Không Vong hội họp, nguy cơ dễ gặp cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát. Trong trường hợp Cung Huynh Đệ có Tử Vi đi với nhóm Sát Phá Tham.
Cung Huynh Đệ nếu Tử Vi đi với nhóm Phủ Tướng không bị phá cách, được Anh Em đùm bọc lẫn nhau, sum vầy, có trách nhiệm, gánh vác lẫn nhau.
Bên ngoài người ta đánh giá là người có phúc, quyền định đoạt nằm tại Cung Huynh Đệ.
Tử Vi tại Cung Huynh Đệ thường có Anh trưởng nhưng nếu Mệnh cung có Hoá Lộc chính Mệnh là con trưởng “Tử Vi cư Huynh Đệ diệc hữu trưởng huynh, ngộ Hoá Lộc hiện vi trưởng”
Tử Vi tại Cung Huynh Đệ kỵ gặp Tang Môn, nếu có tất Anh Chị Em có người bất chính có những hành vi xấu xa.
Các trường hợp xấu là Tử Vi lại thêm Kỵ Hình dễ đưa đến cảnh chia lìa, đứt đoạn không đùm bọc cho nhau. Hình Kiếp Anh Em hại lẫn nhau, Không Kiếp Anh Em không tương trợ đùm bọc nhau.
Kỵ trường hợp Mệnh và Huynh có Triệt ở giữa Huynh trưởng dễ mất sớm.
Cung Mệnh có Thái Dương tất Cung Huynh Đệ có Vũ Khúc. Mệnh cung thường thuộc nhóm Âm Dương Lương hoặc Cự Nhật, lấy Thái Dương làm căn bản.
Cơ bản bộ Âm Dương Lương êm đềm hơn Cự Nhật tất nhiên còn tuỳ thuộc vào hung, cát tinh. Mệnh cung kỵ gặp Kình Đà Anh Em bất hòa, Thái Dương trở thành dấy lên sự chống đối.
Cung Huynh Đệ thường là Vũ Khúc nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc Vũ Khúc phối với nhóm Sát Phá Tham. Cần gặp nhóm Cáo Phụ, Tả Hữu, kỵ gặp Không Kiếp Anh Em không tương trợ lại ức hiếp lẫn nhau.
Kỵ các trường hợp Cung Huynh Đệ có Hình Không Kiếp Anh Em dễ đoạn tình nghĩa.
Kỵ bộ Cô Quả Kình Kiếp Sát hội họp tại cung này đưa đến Anh Em tranh giành, tranh chấp tài sản lẫn nhau đưa đến xung đột.
Kỵ các trường hợp Mệnh Huynh có Triệt đóng ở giữa, nếu Thái Dương tối Mệnh có thể tốt nhưng Cung Huynh Đệ xấu, bất lợi cho Huynh trưởng.
Cung Huynh Đệ cũng thường ít anh em, kỵ có Cô Quả. Các trường hợp cung Huynh Đệ có Vũ Khúc đi với nhóm Sát Phá Tham kiểm tra xem có cách Quế Sứ Hoa Thương không?
Cung Mệnh có Thiên Cơ xung tất Cung Huynh Đệ có Liêm Trinh. Mệnh cung Thiên Cơ thường nằm trong bộ Âm Dương Lương, Cự Nhật hoặc VCD có các bộ Âm Dương Lương, Cự Nhật tam hợp.
Liêm Trinh là ngôi sao theo dõi cung Mệnh, tức nằm trong con mắt canh phòng của sao Liêm Trinh, nếu đầy đủ bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm chủ Anh Em sum vầy, đùm bọc lẫn nhau.
Kỵ gặp Không Kiếp Anh Em không tương trợ lẫn nhau, thêm Hình Anh Em dễ bức hại lẫn nhau mà không đùm bọc. Các bộ Kỵ Hình đều gây bất lợi.
Mệnh giáp Liêm Trinh dễ gặp cách Hình Tù hiệp Mệnh, kiểm tra cung Phụ có Hình hay Kình không? vì Kình cũng giống như Hình trong lý luận. Hình chủ bắt bẻ và trừng phạt và Kình chủ ương ngạnh, chống đối.
Nếu Mệnh có cách này sống xa Cha Mẹ, Anh Em dễ chịu hơn. Kỵ các trường hợp có Triệt đứng giữa hai cung bất lợi cho Huynh trưởng.
Nếu Cung Huynh Đệ Liêm Trinh đi với Sát Phá Tham kiểm tra xem có cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát Không?
Cung Mệnh có Thái Âm tất Cung Huynh Đệ có Thiên Phủ. Mệnh cung thường là bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc Âm Dương Lương, cơ bản là sao Thái Âm.
Cung Mệnh và Cung Huynh Đệ thường che chở lẫn nhau, dễ thông cảm, nếu như Mệnh không có Cáo Phụ và Huynh Đệ không có Không Kiếp.
Thái Âm tại Mệnh cuộc sống dễ êm đềm nhờ cung Huynh Đệ tốt đẹp, Mệnh cung kỵ gặp Kình Đà chủ Anh Em bất hòa, dù Huynh Đệ ra sức bao che nhưng Mệnh vẫn không hòa hợp với cung Huynh Đệ.
Cung Huynh Đệ thường là bộ Phủ Tướng đơn thủ hoặc nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Cung Huynh có Tả Hữu, Cáo Phụ hợp cách.
Phản tác dụng bởi Thiên Hình, Kình Dương mất tác dụng bởi Không Kiếp, Kỵ Hình.
Nếu Cung Huynh Đệ có bộ Tử Phủ kỵ cung này có Tang Môn Anh Em có người bất chính. Kỵ các trường hợp có Triệt đứng giữa hai cung, Huynh trưởng bất lợi.
Đây là sao kỵ nhất vì cả Thiên Phủ và Thái Âm (nhất là sáng) bất lợi trước sao này. Kỵ Triệt đóng tại Thiên Phủ vì đây là ngôi sao Anh Em che chở lẫn nhau sẽ không còn trọn vẹn.
Cung Mệnh có Thiên Lương tất Cung Huynh Đệ có Thiên Tướng. Cung Mệnh thường là bộ Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương.
Mệnh cung thiên về lành tính, Huynh Đệ thương yêu tương trợ, phối trí hai cung rất rất hợp lý, chỉ e mất tác dụng, phản tác dụng bởi các sao khác.
Kỵ nhất là trường hợp có Hoả hoặc Linh tại Mệnh sao còn lại nằm ở cung Huynh Đệ. Tương lai phụ thuộc nhiều vào Anh Em, Anh Em tận tình giúp đỡ nhất là có thêm Tả Hữu, Cáo Phụ.
Bản Mệnh thiên về hiền lành được Huynh Đệ thương yêu che chở, hai chính tinh đóng tại cung này hài hoà nhất mang ý Mệnh hiền được sự thương yêu của Anh Em.
Kỵ các trường hợp Mệnh và Cung Huynh Đệ có Triệt án ngữ vì vừa bất lợi cho số Mệnh Huynh trưởng đồng thời dễ mất sự tương trợ, vong tình với anh em.
Cung Huynh Đệ kỵ các sao và như Kình, Hình, Kỵ Hình hoặc Không Kiếp làm mất tác dụng thương yêu che chở của bộ Phủ Tướng, bộ Hoả Linh dễ sinh hờn giận, thương thì thương, giận thì giận, Anh Em bất hòa.
Kỵ nhất Mệnh cung có Cáo Phụ, cùng lúc Cung Huynh Đệ có Không Kiếp.
Cung Mệnh có Thiên Lương xung tất Cung Huynh Đệ có Phá Quân. Mệnh thường thuộc cách Cự Nhật hoặc Cự Cơ Đồng hoặc VCD có nhóm này tam hợp.
Mệnh chủ yếu là sao Cự Môn, sự phối trí của hai nhóm sao thường đưa đến bất hoà, có khuynh hướng Mệnh ưa xa cách, Huynh Đệ ưa bỏ.
Cung Huynh Đệ dễ bị Anh Em ép buộc, áp đặt. Cung này rất kỵ bộ Kỵ Hình dễ tương tranh, Không Kiếp, Hoả Linh làm Anh Em không gắn bó với nhau, mức độ xa cách tương tranh tuỳ thuộc vào vào hung sát tinh nhiều ít.
Hiếm hoi là Anh Em quần quít bên nhau, hai là bị anh em ruồng bỏ ba là ruồng bỏ anh em. Xấu nhất là trường hợp Mệnh có Cáo Phụ, cùng lúc Huynh Đệ có Không Kiếp hội họp.
Khi cung Mệnh có CỰ MÔN hội họp có tính phức tạp vì Mệnh cung có khuynh hướng dễ xa hơn là gần, cung Huynh Đệ dễ bỏ hơn là gắn bó.
Cung Huynh Đệ thuộc nhóm Sát Phá Tham kiểm tra xem có gặp cách Quế Sứ Hoa Thương không?, nếu có, cung Mệnh thường có Không Kiếp hội họp, rõ ràng Mệnh cung thường dễ gặp chuyện vô phúc bất hạnh.
Cung Mệnh có Thái Âm xung tất Cung Huynh Đệ có Thất Sát. Mệnh thường thuộc nhóm Cự Cơ Đồng hoặc Cự Nhật hoặc VCD có nhóm sao này tam hợp.
Chủ yếu là sao Cự Môn ảnh hưởng đến Mệnh, đây là nhóm sao dễ bất hoà với cung Huynh Đệ vì Mệnh thiên về phản đối, trong lúc Huynh Đệ thiên về áp đặt.
Từ đó, dễ đánh mất tình Anh Em, thiên về dễ mất nhau và xa nhau.
Kỵ Mệnh cung có Kình Đà bất hòa với Anh Chị Em, dễ bị Anh Em ép buộc. Kỵ gặp thêm Kỵ Hình tính xung đột càng cao.
Nếu cùng lúc cung Phụ Mẫu lại có Liêm Trinh, Cung Mệnh bị cung Phụ Mẫu theo dõi và Cung Huynh Đệ gây áp lực. Trường hợp này nên sống xa cách Cha Mẹ, Anh Em khỏi bị áp bức theo dõi.
Nếu Cung Huynh Đệ có thêm Kình hay Hình tính áp bức càng cao. Do Cung Huynh Đệ có Thất Sát, kiểm tra xem có cách Quế Sứ Hoa Thương không?, nếu có Mệnh dễ gặp cảnh đa khổ tai ương.
Cung Mệnh có Cự Môn tất Cung Huynh Đệ có Tham Lang hay nói cách khácTham Lang là em của Cự Môn.
Mệnh thường là nhóm Cự Nhật hoặc Cự Cơ Đồng, phối trí của hai nhóm sao tại Mệnh và Huynh thường đem đến bất lợi dễ xảy ra mâu thuẫn.
Một nhóm tại Cung Huynh Đệ ham muốn ưa áp đặt, và Mệnh thiên về phản đối cự cãi vì thế dễ đưa đến xa nhau, khó gần gũi. Cung Mệnh kỵ có thêm Cáo Phụ, Kỵ Hình dễ đưa đến phụ bạc lẫn nhau.
Cung Huynh Đệ kỵ gặp Không Kiếp, Kỵ Hình là những bộ sao có thể gây ra từ chỗ không thương yêu lẫn nhau, không gần gũi đến làm hại ức hiếp nhau.
Cung này còn đặc biệt kỵ sao Bạch Hổ đưa đến mâu thuẫn xung đột.
Do cung Huynh Đệ thuộc nhóm Sát Phá Tham kiểm tra có cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát hay không?, nếu có, Mệnh cung đa khổ tai ương.
Cung Mệnh có Vũ Khúc tất Cung Huynh Đệ có Thiên Đồng, đây là hai sao luôn luôn đi liền kề nhau. Mệnh thường nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc Vũ Khúc đi với Sát Phá Tham.
Dù đi với bộ nào Mệnh cung kỵ sao Kiếp hơn là sao Không vì sao này vốn Vũ lực lại có thêm Địa Kiếp ức hiếp cung Huynh Đệ đưa đến bất mãn, phản đối.
Nếu đi với sao Không Vong cung Mệnh thường thiệt thòi bất thành, không được thương yêu và thừa nhận.
Thiên Đồng tại cung Huynh Đệ sao nầy chủ cùng một bụng, cùng giống nhau, cùng chung một âm thanh. Dễ hiểu mình gọi người này là Cha, người khác cũng gọi là Cha.
Như thế vô tình Mình Anh Em với họ tức là khác Mẹ vì vậy dễ có anh em dị bào cùng Cha hoặc cùng Mẹ. Thiên Đồng tại đây thường nằm trong bộ Cự Cơ Đồng hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương.
Kỵ các trường hợp bất hòa, bất đồng phụ bạc lẫn nhau khi có Cáo Phụ, Kỵ Hình, Không Kiếp tại Cung Huynh Đệ.
Còn kỵ trường hợp Triệt án ngữ giữa Mệnh và Huynh Đệ chủ đoạn tuyệt giữa Mệnh và Huynh, Hoả Linh dễ giận hờn xa cách. Mệnh cung kỵ Cô Quả hội họp dễ cô độc chỉ có một thân một mình hoặc ít anh em.
Cung Mệnh có Tử Vi tất Cung Huynh Đệ có Thiên Cơ, có thể nói cách khác Thiên Cơ là em của Tử Vi. Mệnh cung thường là bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc Tử Vi đi với nhóm Sát Phá Tham.
Mệnh cung kỵ bộ Không Kiếp nếu có không gánh vác, không đảm trách, không bao bọc… khiến Cung Huynh Đệ dễ sinh bất mãn, bất đồng.
Cùng lúc Cung Huynh Đệ gặp bộ Cáo Phụ đây là bộ sao bất lợi cho cung này. Mệnh và Huynh không thương yêu tương trợ đưa đến cáo buộc bất đồng.
Cung Huynh Đệ thường là Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc Cự Cơ Đồng, Cung Huynh Đệ thường hay chất vấn cung Mệnh, dễ có anh em dị bào.
Nếu không phạm các cách kể trên nhìn chung dễ có hiền Huynh, hiền Đệ. Nhưng Thiên Cơ là sao ưa cật vấn, chất vấn vì thế dễ sinh thị phi.
Chú ý các trường hợp có Cự Môn hội họp và các thị phi tinh khác. Kỵ gặp Cáo Phụ, Hình Anh Em bất hòa, gặp Không Kiếp dễ gặp bất hạnh trong Anh Em, Hoả Linh dễ giận hờn xa cách.
Kỵ các trường hợp Triệt đứng giữa Mệnh và Huynh Đệ bất lợi cho Huynh trưởng nhất là đại hạn thứ hai đi qua đó lại gánh vác vai trò Huynh trưởng. Những bí mật riêng tư của Mệnh và cung này dễ bị lộ.
Cung Mệnh có Tham Lang tất Cung Huynh Đệ có Thái Âm. Mệnh cung thuộc cách Sát Phá Tham đơn thủ hoặc đi chung với nhóm Tử Vũ Liêm.
Mệnh cung rất cần có sao Tuần nhất là có thêm Khoa, Cung Huynh Đệ thường là nhóm Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương, chủ yếu là Thái Âm.
Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn là ba sao liền nhau. Khi Thái Âm ngộ Lộc, Cự ngộ nhóm Phi Phục Thanh, bộ sao này đồng tại cung Phụ Mẫu, cho thấy người Cha thường hay đi lại xa xôi, cũng dễ sinh ra Anh Em dị bào.
Áp dụng thấy cũng khá đúng vì Thái Âm tại đây có nghĩa là có Anh Em kín đáo (âm thầm) không công khai. Cung Huynh Đệ cung kỵ bộ Cáo Phụ cùng lúc Mệnh cung kỵ Không Kiếp Anh Em không gần gũi, gắn bó nhau.
Cung Huynh Đệ kỵ bộ Kình Đà, tam Ám, hợp với bộ tam Minh. Nếu thấy Cung Huynh Đệ chỉ có Thái Âm mà không có Thái Dương hội họp, kể cả xung chiếu có khuynh hướng nhiều Nữ hoặc chỉ có Nữ không có Nam.
Cung Mệnh có Thất Sát Cung Huynh Đệ có Thiên Lương. Mệnh cung thường là nhóm Sát Phá Tham đơn thủ hoặc đi với nhóm Tử Vũ Liêm.
Mệnh cung dễ uy hiếp, ức hiếp được cung Huynh Đệ, Mệnh thì hung nhưng Huynh Đệ lại là hiền, có hiền Huynh hiền Đệ.
Mệnh cung kỵ gặp Không Kiếp nếu có Mệnh cung ức hiếp Cung Huynh Đệ thái quá đưa đến phụ bạc, bất đồng với Cung Huynh Đệ.
Cho nên kỵ các trường hợp Mệnh cung có Không Kiếp, cùng lúc Huynh Đệ có Cáo Phụ đưa đến anh em phụ bạc.
Cung Huynh Đệ thường là nhóm Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương, chủ yếu là Thiên Lương. Dễ có Anh Em dị bào vì dễ gặp bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương.
Nếu Cung Huynh Đệ có Kình, Cáo Phụ, Hình cũng phát sinh lại sự chống đối dù hiền lành, từ đó phát sinh ra phụ bạc.
Cung Mệnh có Liêm Trinh xung tất Cung Huynh Đệ có Thái Dương. Cung Mệnh thường là bộ Phủ Tướng, nhóm Sát Phá Tham hoặc VCD có bộ Phủ Tướng tam hợp.
Cả hai nhóm sao này đều bất lợi mất tác dụng trước bộ Không Kiếp làm cho Phủ Tướng không thương yêu, không thừa nhận, Sát Phá Tham không tham gia, gắn bó và Cung Huynh Đệ trở nên bất mãn bất đồng.
Nếu Cung Huynh Đệ không bị phá cách, được trợ cách tốt đẹp. Mệnh cung thường hãnh diện về Anh Em trai của mình, nhưng cái dễ gặp là bất mãn về cung này.
Cung Huynh Đệ thường là bộ Cự Nhật hoặc bộ Cự Cơ Đồng, chủ yếu là Cự Môn tại Cung Huynh Đệ, ngôi sao dễ phát sinh bất mãn.
Thái Dương còn chủ thiên về chỉ có Anh Em trai, sự việc liên quan đến Anh Em trai. Do Cự Môn hội họp tại Cung Huynh Đệ kỵ gặp Hoá Kỵ, Cáo Phụ đưa đến Anh Em bất hoà.
Cung Huynh Đệ kỵ gặp Kình càng nặng nề hơn khi có thêm Kỵ Hình, Không Kiếp, Hoả Linh. Cũng kỵ gặp Triệt đứng giữa hai cung Mệnh và Huynh Đệ.
Cung Mệnh có Thiên Tướng tất Cung Huynh Đệ có Cự Môn, cá biệt thuộc cách Chị ngã Em nâng. Mệnh thương yêu, Huynh Đệ gần gũi. Cái dễ gặp là Mệnh không thương, Huynh đệ xa cách.
Mệnh cung thường là Thiên Tướng đơn thủ hoặc nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Dù trường hợp nào Mệnh cung cũng kỵ Không Vong là không được thương yêu tương trợ, không được bao che…
Cung Huynh Đệ đưa đến bất mãn, bất đồng dễ phụ bạc. Kỵ nhất là trường hợp Triệt đứng giữa hai cung này Anh Em tương triệt lẫn nhau, tính phản đối, phản bội lẫn nhau rất mạnh.
Cự Môn là ngôi sao dễ sinh bất hoà, bất mãn, bất đồng rất kỵ gặp Cáo Phụ. Càng xấu hơn khi có Thiên Hình. Kỵ các trường hợp thêm thị phi tinh hội họp tại Cung Huynh Đệ.
Tốt là Mệnh thương yêu và Huynh Đệ gần gũi, xấu là không tương trợ và xa cách.
Nội dung trên là ý nghĩa chính của Cung Huynh Đệ, để bàn về thành công hay thất bại, tốt hay xấu cần kết hợp tất cả các sao đi cùng.
Bài viết được biên soạn bởi chuyên gia Tử Vi Đẩu Số với hơn 16 năm kinh nghiệm nghiên cứu về số mệnh Con Người: Minh Tỉnh – Luận giải và đào tạo Tử Vi.