Cung Tử Tức luôn có Nô Bộc và Phụ Mẫu tam hợp và cung Điền xung, liền kề với hai cung Phối và Tài.
Cung Tử Tức là cung gắn bó chặt chẽ với cung Mệnh có thể ở xa Cha Mẹ, Anh Em nhưng mấy ai ở xa con cái, nhất là khi nó còn nhỏ.
Có khi con cái sống với Cha Mẹ hết cả cuộc đời, người ta thường hãnh diện hoặc tủi nhục đa phần do con cái mang lại, nhiều hơn là Cha Mẹ hay Anh Em.
Chúng ta thường được tương trợ mạnh nhất là giữa cha mẹ và con cái, không nhất thiết tại đó có ngôi sao trách nhiệm thật tốt, ngôi sao tình thương thật đẹp…
Vì đó là bản năng tự nhiên, thiên chức tự nhiên của con người. Cung Tử Tức có nghĩa là cung con (tử) và cháu (tức), Cung con cái hay cung con cháu. Nếu đã có cháu, nếu có cả dâu, rể đều nằm chung tại đây.
Cung Tử Tức là nơi quản lý đám con cháu, dâu, rễ, tất nhiên có đứa ăn vào bộ sao này, đứa kia ăn vào bộ sao khác. Chính vì thế làm nổi bật vấn đề đó lên.
Dễ hiểu, Cung Tử Tức chứng tỏ con cái có hiếu trong đám con cháu đó, đứa nào có hiếu nổi bật tính cách. Cung Tử Tức cho ta một nhận định chung, đánh giá chung về các con và cháu.
Phù hợp hay không, quan tâm đến hay không, có đủ trai gái hay không, vinh hay nhục vì con, gần gũi hay xa cách, nhờ cậy được hay là không, con nhiều dòng…
Cung Tử Tức luôn luôn xung với cung Điền, cho nên vấn đề nhà cửa trở nên quan trọng, tam hợp với Phụ Mẫu vì thế Con Cháu và Ông Bà có thể cùng chung với nhau một mái nhà.
Và cũng từ đó có những nhận xét tốt xấu về cung Mệnh khác với sự đánh giá người bên ngoài xã hội.
Khi ta đánh giá tính cách của một người, chúng ta đánh giá qua cung Mệnh, nhưng Cha Mẹ, Anh Em, bạn bè, con cái đánh giá ta khác, cũng như ta đánh giá họ khác.
Con cháu còn liên quan đến bạn bè góp phần quan trọng trong đời sống tình cảm của Mệnh, có thể cậy nhờ, cũng có thể ức hiếp lẫn nhau với muôn ngàn tình huống.
Cung Tử Tức còn nhị hợp, lục hội với một số cường cung quan trọng, tác động đến Dòng Họ.
Nếu nhị hợp với Mệnh cung, Phúc cung, Quan Lộc cung, Thiên Di cung, Tài Bạch cung và Phối cung anh hưởng tốt xấu đến các cung đó.
Do thế đứng tại cung Mệnh, Mệnh đóng nhị hợp và lục hội với Cung Tử Tức, bận tâm nhiều hơn kẻ khác.
Mệnh cung những nơi khác ít quan tâm hơn, trừ các trường hợp cung an Thân nhị hợp hay lục hội với cung Tử hoặc sao Tuần đóng tại Tử.
Nếu Mệnh đóng tại các cung Dần Thân Tị Hợi, Mệnh luôn luôn nhị hợp lục hội với các cung Điền và Tử. Cung Tử nhị hợp hay lục hội đến cung nào, tất nhiên sẽ tác động xấu hay tốt đến cung đó.
Đối với Nữ giới Cung Tử Tức là cung quan trọng còn hơn cả cung Phu vì Phu tử tòng tử, ngày nay cho thấy, ly Phu cũng thường tòng tử.
Điều kỳ lạ này tìm thấy ngôi sao Thiên Đồng (biểu tượng của con cái) dễ tam hợp với Thái Âm (biểu tượng của người mẹ). Người nữ thường gắn bó cuộc đời mình vào con cái nhiều hơn, việc tốt xấu cung Tử ảnh hưởng rất mạnh đến nữ giới.
Thời điểm đi qua Cung Tử Tức hay đối diện với cung này, thiên tính làm mẹ người nữ thôi thúc rất là cao, hôn nhân muộn có thể từ cung Tử do nhu cầu làm mẹ…
Cung Phụ Mẫu và Cung Tử Tức có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu như quan hệ của mình với Bố Mẹ, kể cả Bố Mẹ Vợ hay Chồng, không tốt đẹp.
Đa phần là quan hệ của mình với con cái cũng vậy, có thể nói như quả báo xấu nhãn tiền là đây. Trường hợp mình cư xử tốt đẹp với tứ thân Phụ Mẫu chưa chắc mình nhận được ân tình từ Con Cái.
Vì Con Cái có thể tạo ra nghiệp chướng và nhận lấy hậu quả cũng nhãn tiền từ Con Cái của chính mình.
Truyền tinh, các Con Cháu có truyền tinh với cung Tử không? Cung Tử Tức thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương Con Cái cũng nhóm ấy là truyền tinh.
Hoặc nhóm Bàng tinh Tuế Hổ Phù, Khôi Việt, Tấu Đại Lực hoặc nhóm Hung Sát tinh cũng có tại Mệnh con gọi là truyền tinh. Tất nhiên truyền những cái tốt mới hay, cũng truyền nhưng lại truyền những ngôi sao xấu, vô tình như nghiệp chướng.
Đứa Con của định mệnh là đứa có nhiều đặc điểm truyền tinh nhất, nếu tốt càng tốt, xấu càng xấu.
Điều này phù hợp với khoa học với các gen di truyền lặng và nổi. Các gen di truyền có thể lặng nhiều đời đến đời con cháu mới nổi lên.
Truyền tính, trên là truyền tinh là truyền những chính tinh, bàng tinh từ cung Tử Tức qua cung Mệnh của Con Cháu. Truyền tính là truyền tính cách từ cung Mệnh của mình với cung Mệnh của con cháu.
Nếu Mệnh có hung, sát tinh Con Cháu cũng có các sao đó là truyền tính xấu, nếu có cát tinh là truyền tính cách tốt. Từ đó, ta lại có đứa bé này tính cách giống cha nó ghê có thể có chính tinh trùng nhau, hoặc bàng tinh giống nhau.
Truyền cung, ba là truyền cung, cung Tử của mình nằm tại Tý, Mệnh con cũng nằm tại Tý là truyền cung. Người được truyền cung thường được gần gũi với Mệnh.
Mệnh con cái đóng tại các vị trí Quan, Tài, Mệnh, Di thường gần gũi bố mẹ, là các cung Mệnh cần thấy nhau.
Hoặc có thể nằm các vị trí khác như Mệnh con nằm tại cung Tử là hợp lý nhất. Đó là vai trò con cái chứ leo trèo nằm tại cung Phụ Mẫu có điều bất ổn.
Và một số vị trí nên nằm là tại cung Điền, nơi Mệnh con (tất nhiên kể cả con cháu, dâu rể không nên nằm là cung Tật Ách của Cha Mẹ (tức là Ta), nhì là cung Phối.
Nếu nằm ở Tật Ách vô tình Cha Mẹ phải gánh lấy tai ách, tai hoạ, bệnh hoạn của người con cứ như của mình. Hoặc làm những điều tai hoạ trở thành cái ách mình phải đeo vào, nằm ở Phối cung là sự đòi hỏi thái quá.
Thông thường người ta thường xây dựng hôn nhân tại đại hạn Phối hay Phúc, nếu hôn nhân xảy ra tại cung Phụ hay Huynh thuộc loại sớm, tại Cung Tử Tức, Điền thuộc loại muộn.
Khi đại hạn đáo Tử Tức một vấn đề đặt ra là Tử Tức, Phụ Mẫu, Nô Bộc chính hai cung Phụ và Nô thôi thúc Mệnh cung đến với hôn nhân.
Vì thế, hạn đến Cung Tử Tức bạn bè thường hay hỏi con cái như thế nào rồi, cũng là một hành động thôi thúc, hoặc Cha Mẹ nói mầy không lo việc con cái cứ theo đám bạn bè…
Bởi thế tính thôi thúc xây dựng gia đình tại cung Tử rất mạnh mẽ, thường có sự thương lượng của Cha Mẹ và bạn bè. Cung Tử Tức là cung trời đã định rồi, thế gian thường nói “Cha mẹ sinh con trời sinh tính”.
Cha Mẹ nghèo lao động vất vả nhưng người con chăm chỉ học hành hơn người cũng là chuyện bình thường.
Không thiếu những thủ khoa xuất thân bần hàn, về sau xuất thế vinh hoa. Lại quá nhiều Cậu ấm, Cô chiêu không thiếu các phương tiện, tiện nghi trong cuộc sống nhưng lại thiếu kiến thức.
Cha Mẹ càng đầu tư đầy đủ bao nhiêu về sau càng dễ thất vọng bấy nhiêu. Vậy thì số phận đã như thế có muốn thay đổi cũng không được, ngay cả tính cách của bản thân đã thay đổi được chưa?
Nếu cứ ăn tục nói phét, đố kỵ hoài nghi, xu viêm phụ nhiệt… làm sao thay đổi số phận mình chưa xong lấy đâu thay đổi số phận người.
Nhiều chuyện buồn cười có, đau lòng cũng có… Liệu Mình có hiếu thảo, trọn đạo với Cha Mẹ mình chưa? Sao lại đòi hỏi Con như thế?
Liệu mình có đủ tài năng cầm kỳ thi hoạ không? Sao lại ước muốn Con mình được như thế bắt học, làm những cái không thích… Tài năng, sự yêu thích… tất cả do trời đã định rồi.
Cung Tử Tức tốt là hãnh diện nhờ Con Cháu, Cung Tử Tức xấu tủi nhục vì Con Cháu. Cung Tử sinh quý tử, thần đồng số phận đã định như thế…
Có người sinh Con rất dễ nuôi, có người vất vả vì Con…Cung Tử Tức sinh quái tử cũng không thể thay đổi được xấu thành tốt. Nếu thay đổi được Tử Vi cũng sai mất rồi còn gì…Vậy thì câu hỏi được đặt ra liệu có thể chọn được giờ sinh mổ tốt có được không?
Chắc chắn là không vì có nhiều lý do Bản Thân người đưa ra giờ sinh cũng không biết tốt xấu như thế nào. Dù có giỏi cũng không thể tìm ra giờ tốt để mổ. Vì ngày đó, tháng đó, năm đó không có giờ sinh nào tốt cả.
Cha Mẹ sinh con vất bỏ, thậm chí phá thai và giữa từ “thai” và từ “nhi” chỉ là định nghĩa mà thôi. Cho nên một số tôn giáo không thừa nhận.
Trên phương diện Tử Vi thì sao? đó là sự sống, chọn giờ sinh mổ để có Con quý tử, hiếu thảo, sang giàu… chưa hết, lại quá tham lam phải thọ, vô ưu hoạ ách, lưu danh thiên cổ…
Toàn những chuyện bản thân mình làm không được đòi hỏi Con Cháu làm được. Mình làm không được, đổ vào tại “số” như thế, “phận” hèn…
Đã tin như thế, lại đòi thay đổi số phận của chính Mình qua đường Con Cái như thế đã mâu thuẫn không? Nếu số phận không may về đường con cái lại đòi hỏi tìm giờ sinh quý tử đảo lộn số phận quá lạ kỳ.
Cung Tử Tức là cung gần gũi với Mệnh, không ít thì nhiều cũng bị xâm phạm bởi Hình tinh, tang tóc tinh, sát tinh, thị phi tinh, rất xấu nếu như tụ tập mạnh tại đấy.
Người có Thái Dương xung tại Mệnh tất có Tử Vi tại Cung Tử Tức. Vì sao Tử Vi là ngôi sao tài giỏi, gánh vác, đảm đang (đối với nữ), Cha Mẹ và con đùm bọc lẫn nhau, nếu như không bị phá cách.
Người có Thái Dương xung thường khoe với mọi người, Tui có đứa Con tài giỏi, gánh vác được mọi việc, chẳng bận tâm.
Đều này đúng khi có ngôi sao Tử Vi tốt, đạt chuẩn. Người có Thái Dương sáng đẹp xung chiếu lại có Tử Vi đẹp tại cung Tử Tức chừng đó thôi cuộc sống cũng an vui hạnh phúc.
Vì sao Tử Vi chủ gánh vác, đảm trách, kế thừa, kế tục, sum vầy, bao bọc… lẫn nhau. Khi nhỏ Cha Mẹ che chở cho Con, đùm bọc…Về già con cái có trách nhiệm bao bọc lại Cha Mẹ, đồng thời sum vầy đoàn tụ là niềm hạnh phúc.
Để được như thế Mệnh và Cung Tử Tức kỵ gặp bộ tam Không, ngộ Không, ngộ Triệt, Mệnh còn kỵ tam Ám, Kỵ sao Triệt đóng tại Tử nhất là giữa Tử và Phối.
Cung Tử Tức có Tử Vi toạ thủ thường nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc đi với nhóm Sát Phá Tham. Tử Tức tối kỵ có Không Kiếp làm mất tác dụng thương yêu đùm bọc che chở.
Mệnh thường là bộ Âm Dương Lương, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Cơ Đồng hội họp. Trong đó, sao Thiên Đồng là biểu tượng của con cái cần xa lánh Hoả Linh vì đó là dấu hiệu giận hờn con cái.
Nếu là bộ Cự Cơ Đồng kỵ nhất là trường hợp Mệnh cung có Cáo Phụ cùng lúc Cung Tử Tức có Không Kiếp ức hiếp Mệnh cung, giữa hai cung sinh mâu thuẫn.
Mệnh có Thiên Đồng tất có Liêm Trinh tại Cung Tử Tức, hay nói cách khác người Mệnh Thiên Đồng có con là Liêm Trinh.
Mệnh Thiên Đồng nằm trong bộ Cự Cơ Đồng hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Đồng cũng là biểu tượng của con cái, con cháu, con trẻ.
Sao này cần phải tốt đẹp tối kỵ Cáo Phụ Kỵ Hình dễ đưa đến sự phụ bạc. Mệnh rất kỵ bộ Không Kiếp vì biểu tượng Con cái nằm tại Mệnh.
Mệnh ngộ Không Vong dễ lâm vào hoàn cảnh không Con, hoặc có cũng bằng không, có cũng như không. Ngộ Kiếp khổ nạn vì Con.
Bộ Không Kiếp cũng kỵ gặp tại Cung Tử Tức làm ngôi sao đạo đức mất tác dụng, cũng như dễ gặp tai hoạ dài lâu ảnh hưởng xấu đến sao Tử Vi (tam hợp) là ngôi sao đùm bọc.
Mệnh có phúc, lành tính sinh Con có đạo đức, đoan chính. Đó là cái nhìn chung, nếu mọi sự đều tốt đẹp. Vì thế cung Mệnh cần có Thiên Việt để phát phúc.
Mệnh có thể gặp Tứ Hung, Vì Thiên Đồng có thể hoá giải các sao này, cùng lúc cung Tử Tức dễ gặp bộ Đào Hồng. Phối trí các sao như thể rất hợp lý, đây cũng là cách dễ gặp chỉ e bị phá cách mọi cái tốt đẹp không còn nữa.
Cung Tử Tức có Liêm Trinh toạ thủ thường nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc đi với nhóm Sát Phá Tham.
Đây là ngôi sao quản lý, cai quản con cái cần tốt đẹp. Gặp Không Vong là không quản lý được, có khi còn hoạ vì Con Cái nếu có Kỵ Hình.
Mệnh Thiên Cơ tất Cung Tử Tức có Vũ Khúc, hay nói cách khác Mệnh Thiên Cơ có Con là Vũ Khúc.
Cho nên thỉnh thoảng chúng ta thấy Con Cái nhiều gia đình tài năng không thua gì Cha Mẹ thậm chí còn vượt trội.
Mệnh Thiên Cơ nằm trong bộ Cự Cơ Đồng hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cung Tử Tức thuộc bộ Tử Vũ Liêm.
Cung Tử Tức Vũ Khúc toạ thủ thường nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc đi với nhóm Sát Phá Tham. Cả hai chính tinh Mệnh và Tử đều kỵ Hoả Linh.
Chú ý trường hợp Mệnh và Cung Tử Tức có bộ này, nếu Mệnh có sao này, sao kia tại Cung Tử Tức càng xấu, Cha Mẹ và Con không hợp nhau. Bộ Hoả Linh tại Tử sinh đẻ, nuôi dưỡng càng khó khăn.
Vũ Khúc chủ hiếm ít, cho nên kỵ gặp thêm Cô Quả. Tuy nhiên Vũ Khúc có tính cô độc không được gần gũi con rất kỵ Cô Quả tại đây, nếu có Cô Quả dễ cô độc, bằng không dễ khổ vì Con.
Nếu có Cô Quả còn kỵ Kình Dương vì Con Cái tranh chấp tài sản với Cha Mẹ.
Mệnh có Cự Môn tất Cung Tử Tức có Thiên Phủ hay nói cách khác Cự Môn có Con là Thiên Phủ. Mệnh cung thường là bộ Cự Nhật hoặc nằm trong bộ Cự Cơ Đồng.
Mệnh Cự Môn là thị phi chi diệu, cùng lúc Thiên Phủ là sao hay phê phán. Phối trí các sao như thế cho thấy tính thị phi dễ xảy ra giữa Mệnh và Cung Tử Tức.
Đa phần các bàng tinh đều có tính thị phi, dễ chịu nhất là sao nào đi với Thanh Long là hợp cách. Cự Môn thích phản đối, Thiên Phủ lại thích phê phán, ủng hộ, thừa nhận, chừng đó thôi cũng đủ ồn ào.
Thiên Phủ tại Tử còn có nghĩa là bao che cho Con Cái, bao che đứa này tất đứa khác nổi sùng, nhất là bao che những cái xấu xa, sai lầm, càng ồn thêm chuyện.
Cung Tử Tức thường là Thiên Phủ đơn thủ, hoặc nằm trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Thiên Phủ là ngôi sao che chở cho Con Cái, về sau Con Cái che chở lại mình.
Xấu dễ bị mang hoạ vì bao che cho Con Cái, mọi cái đều có tốt xấu và mất tác dụng trong đó. Sẽ có tình huống vô cùng éo le, bộ giận hờn Hoả Linh một sao nằm tại Mệnh một sao nằm tại Tử làm tăng thêm tính giận hờn xa cách.
Cự Môn bị hạn chế nói khi có Hoá Kỵ, cả hai sao này đều kỵ Triệt đương đầu vì lộ phản và lộ che. Nếu có Triệt cố định nằm như thế sẽ có lúc gặp Triệt lưu động đóng sao còn lại mọi chuyện càng thêm ồn ào.
Mệnh và Cung Tử Tức đều hợp với sao Thanh Long, nếu Mệnh có Cáo Phụ sẽ dễ đưa đến Thiên Phủ ngộ Không Kiếp.
Giữa Mệnh và Cung Tử Tức phản đối không thừa nhận lẫn nhau đây là trường hợp xấu.
Càng xấu hơn nếu Kỵ Hình tại Mệnh hay tại Tử, thời điểm xấu nhất là đại, tiểu hạn hạn đồng cung hay tam hợp với Tử Tức cung có lưu Kỵ Triệt.
Mệnh có Thái Âm xung tất cung Tử Tức có sao Thiên Tướng. Thiên Tướng đóng tại Tử Tức rất hợp cách chủ có Con Cái nối tiếp trong đó có cả nối tiếp sự nghiệp, công việc của Mệnh đồng thời thương yêu Con Cái.
Đây cũng là một trong các sao hợp với Tử Tức nhưng không phải trường hợp nào cũng may mắn như thế này, vì các ngôi sao đều có nguy cơ mất tác dụng và phản tác dụng.
Cả hai sao này đều kỵ Triệt đương đầu nhất là Thiên Tướng rất kỵ Triệt, nếu Triệt tại Tử và Phối càng xấu hơn nữa vì Mệnh có thể xoá bỏ cùng lúc cả hai cung này.
Thái Âm sáng rất kỵ bộ Triệt Hư, Mệnh thường là bộ Cự Cơ Đồng hoặc Cự Nhật là bộ sao dễ sinh chuyện thị phi nhất. Tối kỵ bộ Cáo Phụ nhất là có thêm Kỵ Hình.
Nếu là trường hợp Cự Cơ Đồng còn kỵ Không Kiếp vì Thiên Đồng còn là biểu tượng của Con Cái, ngộ Không Kiếp là dấu hiệu bất ổn.
Mệnh kỵ các bộ tám Ám, tam Không, Cung Tử Tức còn kỵ bộ Không Kiếp vì con cái không được thừa hưởng từ cung Mệnh. Kỵ nhất là trường hợp Tử cung có Không Kiếp hội họp cùng lúc Mệnh có Cáo Phụ, Mệnh và Tử bất đồng.
Mệnh có Thái Âm tất Cung Tử Tức có Phá Quân hay nói cách khác người Thái Âm có con là Phá Quân.
Mệnh Thái Âm thường nằm trong bộ Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương và cung Tử Tức nằm trong bộ Sát Phá Tham đơn thủ hoặc phối với bộ Tử Vũ Liêm.
Cái may mắn nhất lại khó gặp là Mệnh có cuộc sống êm đềm con cái gắn bó quấn quít với Cha Mẹ. Nhưng cái dễ gặp là cuộc sống của Mệnh không êm đềm vì rất dễ gặp phá cách là bỏ hơn là gắn bó.
Tính cách của Cha Mẹ Thái Âm và con là Phá Quân, Cha Mẹ ưa âm thầm, êm đềm, con lại ưa khám phá, phá phách… tính cách có vẻ trái ngược nhau.
Có hai trường hợp gắn bó với con và dễ bỏ con, kỵ trường hợp cung Tử và Phối có Triệt nhất là Triệt Kỵ, kỵ các trường hợp có Không Kiếp, Tam Không và Kỵ Hình.
Phá Quân có tính quậy phá dễ sinh bất ổn, Tử cung còn kỵ gặp nhóm tứ Hung, Mệnh cung kỵ gặp nhóm tam Ám.
Kỵ các trường hợp Cung Tử Tức có bộ Xương Khúc vô hình chung có thể hình thành cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát tại cung Tử.
Cung Mệnh lúc đó dễ xuất hiện chữ “không may” Thiên Lương ngộ Không Vong.
Mệnh có Cự Môn xung tất Cung Tử Tức Có Thất Sát, Cung Tử thuộc cách Sát Phá Tham đơn thủ hoặc phối với Bộ Tử Vũ Liêm.
Mệnh thuộc cách Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương chủ yếu là bộ Âm Lương.
Đây là ngôi sao kỵ đóng ở Cung Tử Tức, quá thiên về mất. Thất Sát kỵ gặp các sao kể trên vì Thất Sát là sao chủ cô độc, chủ mất rất kỵ nhiều cô độc tinh khác tại đây và tại Mệnh.
Thất Sát chủ mất còn kỵ Vong tinh, tam Không, Tang Môn, Cô Quả, Hình Tinh và các sao thuộc nhóm cô độc như Linh Tinh, Vũ Khúc hội họp.
Cung Tử Tức còn kỵ gặp nhóm tứ Hung, tam Không, Kỵ Hình. Cung Mệnh có khuynh hướng xa, cung Tử có khuynh hướng mất. Nếu tốt, Mệnh cung được gần, Cung Tử Tức chủ được chứ không mất.
Mệnh cung kỵ gặp nhóm tam Ám kỵ nhất là trường hợp Mệnh có Không Kiếp hội họp, cùng lúc Tử Tức có Xương Khúc thuộc cách Quế Sứ Hoa Thương phùng Thất Sát.
Có thể nhìn thấy từ cung Phụ, dấu hiệu không may mắn về đường con cái. Vì Thiên Đồng, Thiên Lương là dấu hiệu của con cái ngộ Không Kiếp.
Mệnh có Thiên Lương tất Cung Tử Tức có Tham Lang, Mệnh thường là bộ Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương.
Cung Tử Tức thường là Sát Phá Tham đơn thủ hoặc phối hợp với Tử Vũ Liêm.
Trong nhóm Sát Phá Tham chỉ có Tham Lang đóng tại Cung Tử Tức là hay nhất, đó là ngôi sao chủ tham gia gần gũi với Cha Mẹ, có tính nịnh hót.
Hay nói cách khác Thiên Lương có con là Tham Lang, Cha Mẹ hiền sinh Con có phần hơi thất thường vì sao này dị ác dị thiện (dễ ác, dễ thiện) vì thế giữa Mệnh và Tử khó hòa hợp.
Nếu Mệnh Thiên Lương may mắn về tiền bạc, nếu tốt là kẻ lấy của giúp người trong khi ấy Con Cái dễ có tham vọng về tiến. Đây cũng là mâu thuẫn giữa Mệnh và Cung Tử Tức.
Mệnh cung hợp với bộ Khôi Việt, hợp với sao Thái Tuế dù xấu và Bệnh Phủ. Trái lại các sao vừa kể lại không thích hợp với Tử Tức, đây là yếu tố rất tốt vì Mệnh và Cung Tử Tức luôn luôn lệch pha.
Nếu Mệnh đi với nhóm sao trên, Tử Tức đi với sao Hao là hợp cách. Cung Mệnh và Tử đều hợp với sao Tuần tất nhiên không phải Tuần nằm trong bộ Tam Không hay Tuần đi với Không Kiếp.
Mệnh có Vũ Khúc xung tất Cung Tử Tức có Thiên Cơ, Cung Mệnh thường là nhóm Sát Phá Tham hoặc nhóm Phủ Tướng. Vũ Khúc xung thường dễ móc ngoặc với bên ngoài, đây cũng là cách có cửa hàng, kinh doanh.
Cung Tử Tức có Thiên Cơ tất có Thiên Đồng tam hợp từ phải, thường là bộ Cự Cơ Đồng hoặc nằm trong bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương thuộc cách Con hiền.
Đây cũng là vị trí hợp cách của Thiên Cơ, hình tượng đứa bé hay hỏi nằm đúng vị trí tuy nhiên dễ gặp thêm Cự có tính phức tạp, vì thế trường hợp nào cũng kỵ gặp Cáo Phụ, Thiên Hình.
Thiên cơ có nghĩa là con riêng thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương dễ có con dị bào, chứ không phải là phải có. Các nhóm sao tại Mệnh như Sát Phá Tham, Phủ Tướng dễ có những tình cảm riêng tư.
Mệnh tối kỵ có Thiên Không nếu Cung Tử Tức có bộ Cáo Phụ là xấu. Mệnh và Tử Tức dễ xảy ra xung đột mâu thuẫn. Cha mẹ và con Cái không thừa nhận lẫn nhau, từ đó Con dễ hỗn láo với Cha Mẹ.
Mệnh có Liêm Trinh xung tất Cung Tử Tức có Thiên Đồng, Mệnh cung thuộc nhóm Sát Phá Tham, Phủ Tướng hoặc VCD có Phủ Tướng tam hợp.
Thiên Đồng đóng tại Cung Tử Tức là hợp cách nhất vì nó mang biểu tượng đứa bé Con. Cung Tử Tức thường là Thiên Đồng nằm trong bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương thường ổn định hoặc bộ Cự Cơ Đồng dễ sinh phức tạp.
Xưa quan niệm có Con là có phúc, nhờ nối dõi tông đường, Cha mẹ về già thường nhờ cậy vào Con Cái. Cho nên Thiên Đồng cũng là phúc tinh của chính mình, vậy phúc tinh hoá ra chỉ là Con Cái.
Thiên Đồng hợp với Hỉ Thần dễ sinh thần đồng, Có câu “Hỉ Thần cùng hội Phúc tinh. Dương danh quý tử hiển vinh sang giàu”.
Cung Tử Tức kỵ các bộ Không Kiếp nếu có là vô phúc, kiếp nạn vì con. Kỵ bộ Hoả Linh cung Tử Tức không còn là phúc tinh nữa, kỵ bộ Cáo Phụ, Thiên Hình con cái hỗn láo phụ bạc với Cha Mẹ.
Dễ có hai dòng Con vì Thiên Đồng còn mang ý là Con chung, vì có Con chung tất dễ có Con riêng, từ đó dễ có Con dị bào chứ không nhất thiết phải có.
Mệnh có Liêm Trinh xung có người để ý từ bên ngoài, trong khi Thiên Đồng tại Cung Tử Tức có nghĩa là có Con “cùng” Mẹ khác Cha hay cùng Cha khác Mẹ.
Mệnh tối kỵ có Không Vong cùng lúc Cung Tử Tức có bộ Cáo Phụ là xấu. Cha Mẹ và Con Cái không thừa nhận lẫn nhau, từ đó Con dễ hỗn láo với Cha Mẹ.
Mệnh có Tham Lang xung tất Cung Tử Tức có Thiên Lương, Mệnh thường có bộ Phủ Tướng đơn thủ hay hội họp với nhóm Tử Vũ Liêm tạo thành cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoặc VCD có Tham lang xung.
Vì Mệnh có Tham Lang xung, Nếu là Nữ Mệnh có thể gặp trường hợp VCD làm lẽ, làm hầu mong nhờ đứa Con để kiếm sống.
Mệnh có chính tinh cũng dễ chia lìa vì cung Phối bị gặp Thất Sát dễ mất hơn là được.
Thiên Lương tại Cung Tử Tức là đứa Con đem lại may mắn cho chính Mệnh, chủ hiền lành, hiền từ, đồng thời đem lại may mắn về tiền bạc.
Sự may mắn ấy đôi khi cũng mang lại sự cay đắng không kém. Nói dễ hiểu, số phận mình không may, nhờ đứa Con nên được chu cấp, nên sống bằng tiền của Con.
Cung Tử thường thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc Âm Dương Lương dễ có con dị bào, Mệnh có nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm dễ có những mối tình bí mật.
Do Phối cung luôn luôn có Thất Sát được mất thất thường, Phối cung kỵ gặp Không Vong vì một sao mất lại thêm một sao Vong.
Mệnh có Thiên Tướng Cung Tử Tức có Thái Âm, có thể nói Mệnh Thiên Tướng có Con là Thái Âm. Mệnh cung tối kỵ ngộ Triệt, Không Vong.
Mệnh thuộc cách thương yêu và che chở, tình cảm có phần dạt dào, phù hợp với bộ Tả Hữu, Cáo Phụ tối kỵ bộ Không Kiếp. Nếu có dễ đưa đến bất hạnh cho cung Phối, kéo theo cung Tử.
Cung Tử Tức thường là bộ Âm Dương Lương hoặc là bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, chủ yếu là bộ Âm Lương nên rất cần có Thiên Việt để phát may mắn từ Con Cái.
Trường hợp Cung Tử Tức không có Thái Dương hội họp là quá thiên về Thái Âm dễ đưa đến Có Gái mà không có Trai. Nếu cả hai Vợ Chồng đều có trường hợp như thế tất sẽ đưa đến không có con Trai, như thế hai chữ kế tục có vấn đề.
Cung Tử Tức tối kỵ tam Không, tam Ám, kỵ bộ Hư Triệt toạ thủ tại bản cung.
Thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương dễ có Con dị bào, vì Thiên Cơ chủ Con riêng, Thiên Đồng chủ Con chung (Con Anh, Con Tôi, Con Chúng Ta), hoặc cầu tự đề có con Trai.
Mệnh có Tử Vi tất Cung Tử Tức có Thái Dương, nói cách khác Tử Vi có Con là Thái Dương. Thái Dương là niềm kiêu hãnh của Tử Vi với trường hợp Thái Dương sáng sủa tốt đẹp không bị phá cách.
Nhất là cách Dương Lương người được cách này là Tử Vi cư Ngọ, Tử Vi cư Tý kém hơn nhưng quan trọng là thực tế là có hỗ trợ cho Thái Dương hoặc bị phá cách.
Cung Tử Tức có bộ Âm Dương Lương hoặc Cự Nhật. Bộ Âm Dương Lương kỵ ngộ Không Vong vì Con Cái dễ gặp chuyện không may.
Nếu là bộ Cự Nhật kỵ bộ Cáo Phụ và Mệnh cung ngộ Không hay sao này hội họp. Mệnh và cung Tử Tức phụ bạc lẫn nhau.
Trường hợp Mệnh Tử Vi đi với nhóm Sát Phá Tham cung Tử Tức kém hay vì luôn luôn hình thành bộ Cự Nhật.
Vì bộ sao này thường dấy lên sự bất mãn phản đối, dễ gặp xấu hơn là tốt. Trường hợp này kỵ gặp thêm bộ Cáo Phụ nếu có thêm Thiên Hình càng phức tạp.
Trường hợp chỉ có Thái Dương mà không có Thái Âm hội họp (kể cả xung chiếu) quá thiên về Con Trai mà không có con gái. Nếu cả hai Vợ Chồng đều như thế lại càng khó có con Trai.
Thái Dương sáng nở nang mày mặt nhờ Con, Thái Dương hãm không đắc ý.
Mệnh có Thất Sát tất Cung Tử Tức có Cự Môn hay nói cách khác Thất Sát có Con là Cự Môn.
Một Thất Sát xấu dễ đưa đến Con Cái chia ly, thất vọng vì Con vì một sao chủ mất và một sao chủ xa. Dễ xảy ra trường hợp thất vọng vì Con, cá biệt là được Con Cái gần gũi.
Cung Tử Tức có Cự Môn rất kỵ Hoá Kỵ cũng như kỵ bộ Cáo Phụ Thiên Hình càng gây thêm xa cách. Rất kỵ gặp Triệt tọa thủ, càng kỵ hơn khi Mệnh có Tuần. Trường hợp Mệnh có Triệt, Cung Tử Tức có Tuần cũng không tốt đẹp dễ gây mất người, xa người.
Kỵ gặp Lộc Tồn thuộc cách “đáo lão vô nhi khốc”, đến bạc đầu cũng không có tiếng khóc Trẻ thơ. Các trường hợp Lộc Tồn lại gia thêm Cô Quả càng chính xác.
Đây là cách ít Con, hiếm Con nhất là Con Trai. Mệnh tối kỵ có Không Vong, Mệnh và Cung Tử Tức không phù hợp với nhau.
Chỉ có thất vọng vì Con và xa cách Con, cả hai cung Mệnh và Tử Tức đều kỵ Lộc Tồn nhưng éo le nếu cung này có Hao tất cung kia dễ ngộ Lộc Tồn kể cả Lộc Tồn xung.
Nội dung trên là ý nghĩa chính của Cung Tử Tức, để bàn về thành công hay thất bại, tốt hay xấu cần kết hợp tất cả các sao đi cùng.
Bài viết được biên soạn bởi chuyên gia Tử Vi Đẩu Số với hơn 16 năm kinh nghiệm nghiên cứu về số mệnh Con Người: Minh Tỉnh – Luận giải và đào tạo Tử Vi.